CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề về năng lực và dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Theo Từ điển tiếng Việt, năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [33, tr.
Trong tiếng Việt cũng như trong tiếng Anh, từ năng lực (Competence, Ability, Capability, Efficiency, Capacity, Potentiality, .) được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể, gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng biệt. Hơn nữa, từ năng lực lại rất gần nghĩa với một số từ khác như tiềm năng, khả năng, kĩ năng,. do vậy nếu chỉ nói chung chung thì sẽ rất phức tạp và khó xác định. Tuy nhiên, theo như định nghĩa trên đây, từ năng lực có hai nét nghĩa chung được xác định, gồm: - Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
- Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Hiểu theo nét nghĩa thứ nhất, năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó của người học. Hiểu theo nét nghĩa thứ hai, năng lực là một cái gì đó sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. Như vậy theo nghĩa chung nhất, năng lực là tổng hoà các yếu tố chủ quan của chủ thể đáp ứng một yêu cầu nào đó, đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả cao.
Khi nói đến năng lực cần phải hiểu nó không phải là một yếu tố 10 đơn lẻ, duy nhất mà là tổng hoà các yếu tố bảo đảm cho chủ thể đó đạt được tốc độ, hiệu quả trong hoạt động; năng lực cũng không phải là phép cộng giản đơn của các yếu tố chủ quan của chủ thể mà là sự thống nhất hữu cơ, tác động, đan xen, xâm nhập vào nhau của tất cả các yếu tố. Năng lực của con người bao gồm cả yếu tố bẩm sinh (yếu tố tự nhiên), đây là yếu tố có vai trò rất quan trọng, nhưng nó mới ở dạng tiềm năng. Tiềm năng đó cần được phát huy, nâng cao và đổi mới, nếu không sẽ mai một. Thông qua hoạt động thực tiễn, trực tiếp là lao động sản xuất làm cho những khả năng tự nhiên của con người phát triển.
Đồng thời cũng thông qua hoạt động thực tiễn con người tích lũy những kinh nghiệm và tri thức tạo nên những điều kiện để đáp ứng những hoạt động nhất định. Đó là quá trình phát triển không ngừng về năng lực của con người. Bởi chính quá trình hoạt động thực tiễn không những chỉ cải tạo tự nhiên, xã hội phục vụ nhu cầu đời sống con người mà còn cải tạo chính bản thân con người, làm cho con người. Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng.
Có nhiều loại năng lực khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể. Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung - chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động.
Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là 11 những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận - giải quyết vấn đề.
Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của giáo viên bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học. Vấn đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong trường tiểu học Dạy học định hướng phát triển năng lực được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế.
Dạy học định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu chính không phải là cung cấp kiến thức mà là nhằm phát triển năng lực người học. Dạy học định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Khác với dạy học định hướng nội dung, chương trình, quá trình dạy học định hướng 12 năng lực nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức. Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn.
Trong chương trình định hướng phát triển năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực (Competency). Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình. Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra.
So sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát triển năng lực sẽ cho chúng ta thấy ưu điểm của chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực ở bảng sau: Bảng 1. So sánh chương trình dạy học định hướng nội dung và chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực Chương trình định hướng Chương trình định hướng nội dung phát triển năng lực Mục tiêu Mục tiêu dạy học được mô Kết quả học tập cần đạt được mô tả giáo dục tả không chi tiết và khó chi tiết và có thể quan sát, đánh giá đánh giá được. được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục. Nội dung Việc lựa chọn nội dung dựa Lựa chọn những nội dung nhằm đạt giáo dục vào các khoa học chuyên được kết quả đầu ra đã quy định, gắn ngành, ít gắn với các tình với các tình huống thực tiễn.
Chương huống thực tiễn. Nội dung trình chỉ quy định những nội dung 13 được quy định chi tiết trong chính, không quy định chi tiết. chương trình. Phương GV là người truyền thụ tri GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ pháp dạy thức, là trung tâm của quá HS tự lực và tích cực lĩnh hội kiến học trình dạy học.
HS tiếp thu thức. Chú trọng sự phát triển khả thụ động những tri thức năng giải quyết vấn đề, khả năng giao được quy định sẵn. tiếp…; Chú trọng sử dụng các PP và kỹ thuật dạy học tích cực; các PPDH thí nghiệm, thực hành. Hình thức Chủ yếu dạy học lý thuyết Tổ chức hình thức học tập đa dạng; dạy học trên lớp học.
chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, NCKH, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học. Đánh giá Tiêu chí đánh giá được xây Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực kết quả dựng chủ yếu dựa trên sự đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong học tập ghi nhớ và tái hiện nội dung quá trình học tập, chú trọng khả năng của HS đã học. vận dụng trong các tình huống thực tiễn. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học ở trường tiểu học gồm 3 nội dung chính là: Xây dựng chương trình giáo dục; Xác định phương pháp dạy học và Tổ chức kiểm tra đánh giá.
- Về xây dựng chương trình giáo dục: Chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học ở Trường tiểu học cần phải xác định chuẩn đầu ra về "phẩm chất, năng lực", gồm: - Về phẩm chất: HS cần có được tình yêu gia đình,yêu quê hương đất nước, tấm lòng nhân ái, khoan dung, đức tính trung thực, tự trọng, chí công vô tư và ý chí tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó. Học sinh sống có 14 trách nhiệm với bản thân, cộng đồng đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên, thực hiện nghĩa vụ đạo đức, tôn trọng chấp hành kỷ luật và pháp luật. * Các năng lực chung được hình thành ở học sinh như: Năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lý, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực tính toán * Các năng lực riêng:Tùy theo đặc trưng của từng môn học.