đặt vấn đề cũng như sự lý giải (tư tưởng nghệ thuật) của nhà văn; người đọc cũng có thể liên tưởng, tưởng tượng hay suy tưởng, mở rộng không gian và thời gian của "thế giới mang nghĩa" mà nhà văn đề xuất, mô tả, gợi ý trong tác phẩm. Nhưng những tác động của tinh thần thời đại, sự mở rộng giao lưu văn hóa. sẽ tạo nên tích cực chủ quan của quá trình "đồng nhất thẩm mỹ", góp phần rút ngắn khoảng cách thẩm mỹ. Do vậy, giữa các công chúng bạn đọc luôn có khoảng cách trong tiếp nhận, thậm chí giữa các HS trong cùng lớp cũng có khoảng cách trong tiếp nhận.
Người GV cần định hướng, điều chỉnh nhận thức tản mạn và phiến diện của HS; đồng thời tổ chức, động viên, kích thích quá trình tiếp nhận của HS, giới hạn và định hướng thẩm mỹ trong tiếp nhận dù biết giữa tác giả và bạn đọc HS có khoảng cách về tâm hồn, tư duy, tâm lí và “độ thị sai”. Thị sai biểu lộ ở những chủ thể cảm nhận khác nhau trước một hiện tượng văn học. Thị sai không phải là hiện tượng có ở những người chưa phát triển về văn học mà ngay cả những bạn đọc có thể nói là thiên tài văn học.Tôn xtôi, nhà văn Nga vĩ đại tầm cỡ thế giới lại có nhận thức khác lạ về Sêchxpia.Tôn xtôi, Sêchxpia là nhà văn tồi, thiếu cái tối thiếu của một nhà văn (Về Sêchxpia, NXBXưtin, Matxcơva, 1905). Độ thị sai về đánh giá với TPVH luôn diễn ra trong TNVH.
Độ chênh không chỉ diễn ra ở các thời điểm cách xa nhau do sự trưởng thành của bản thân chủ thể mà có khi vẫn xảy ra trong những thời điểm không cách xa nhau nhưng vì tâm trạng đổi khác. Không nên giải thích đơn thuần “độ thị sai” bằng nguyên nhân thời đại, giai cấp, lịch sử - xã hội. Đó còn do nguyên nhân khoảng cách giữa nhà văn với bạn đọc. Thế giới 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cuộc đời nhà văn với thế giới cuộc đời bạn đọc vốn xa cách, trong cảm thụ lại phụ thuộc vào vốn sống trực tiếp và gián tiếp cùng nhiều yếu tố khác của bản thân chủ thể như thị hiếu, thói quen thẩm mỹ, năng lực văn học.
Dựa vào tính chủ quan trong TNVH, GV một mặt cần có cách tổ chức phát huy hết khả năng sáng tạo của chủ thể tiếp nhận; mặt khác cũng cần uốn nắn, điều chỉnh, định hướng sao cho không có hiện tượng hiểu sai lệch ý đồ tư tưởng của tác giả cũng như tác phẩm. Tính khách quan trong tiếp nhận văn học TPVH là thế giới tinh thần của nhà văn, nó tồn tại khách quan và độc lập với bạn đọc, nó mang trong mình lớp nghĩa hàm ngôn và hiển ngôn. Tính khách quan trong TNVH được quy định bởi nội dung ý nghĩa khách quan của TPVH. Dù muốn hay không khi sáng tác nhà văn phải có sự liên hệ hữu cơ với trào lưu tư tưởng xã hội nhất định.
Vì vậy tiếp nhận chủ quan của bạn đọc cũng phải căn cứ vào ý nghĩa khách quan của hiện tượng trong văn bản. Tính chủ quan chỉ là một phương diện của hoạt động cảm thụ. Tính chủ quan chỉ được giải thích trong mối quan hệ với tính khách quan. Xác định tính khách quan trong TNVH là chấp nhận mối quan hệ giữa tồn tại và ý thức, xã hội và cá nhân.
Con người là tổng hòa của nhiều quan hệ xã hội, làm sao mỗi chủ thể lại là một đơn vị biệt lập không chịu ảnh hưởng những tác nhân lịch sử xã hội mà chính họ dù muốn hay không vẫn cần phải tắm mình trong đó. Chính những điều kiện lịch sử, giai cấp, thời đại đã tạo nên khuynh hướng, chiều hướng khách quan của cảm thụ văn học nghệ thuật cá nhân. Thường cảm hứng lịch sử, không khí tâm lí thời đại quy định một cách rất đậm nét tâm lí người cảm thụ và hiệu suất cảm thụ. Không hòa nhập vào không khí lịch sử thời đại của TPVH không thể hiểu được vẻ đẹp của nó.
Xét trong mối quan hệ giữa bạn đọc và tác phẩm, chúng ta thấy rằng bản thân tác phẩm sẽ quy định chiều hướng và hiệu suất cảm thụ của người đọc. Tính khác quan 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của TNVH còn phụ thuộc vào sự khác nhau của thể loại và phương diện thể hiện. Tuy nhiên nói đến tính chủ quan và tính khách quan trong TNVH là hai phương diện, hai mặt của một quá trình thống nhất. Tuyệt đối hóa chủ quan là sa vào con đường duy tâm chủ quan, phủ nhận vai trò của tồn tại đối với ý thức.
Ngược lại chỉ thấy phương diện khách quan mà loại trừ gạt bỏ tính năng động chủ quan của chủ thể thì rơi vào nhận thức máy móc. Hai yếu tố khách quan và chủ quan có tác động qua lại, chuyển hóa, thâm nhập một cách biện chứng và linh hoạt. Trong quá trình TNVH vai trò chủ quan cần được đặc biệt coi trọng. Những tác nhân bên ngoài chỉ thực sự có hiệu quả khi nó được chuyển hóa thành sức mạnh bên trong của bản thân chủ thể và ngược lại những yếu tố bên trong chỉ thực sự có ý nghĩa khi được bắt nguồn từ yếu tố bên ngoài.
Trong nhà trường, TNVH của HS cũng tuân theo quy luật đó. Phát huy tính chủ quan là phát triển nhân cách, phát triển sự năng động, sáng tạo của chủ thể HS. Người GV cần căn cứ vào những dặc điểm của quá trình TNVH, đặc điểm tâm lí HS, tôn trọng những cảm nhận riêng, khuyến khích những khám phá, sáng tạo riêng của mỗi cá nhân, làm sống dậy những tình cảm, những kinh nghiệm cá nhân để phát huy khả năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS trong tiếp nhận TPVH. Hoạt động liên tưởng, tưởng tượng vốn là một biểu hiện của TNVH, nó trở thành công cụ tất yếu giúp HS tự cảm thụ, khám phá và chiếm lĩnh TPVH.
Hoạt động liên tưởng và tưởng tượng 1. Liên tưởng và tưởng tượng trong hoạt động tâm lý của con người Cảm giác và tri giác là hai quá trình tâm lý của giai đoạn nhận thức cảm tính (trực quan), có vai trò quan trọng đối với sự định hướng các hành vi và hoạt động của con người, đặc biệt trong việc hình thành biểu tượng của giai đoạn nhận thức lý tính (gián tiếp). Biểu tượng là một bậc thang chuyển tiếp từ các hình ảnh cụ thể đến khái quát trừu tượng, từ cảm giác và tri giác đến tư duy. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Biểu tượng được coi là hạt nhân của tưởng tượng, trí nhớ là phương thức tồn tại của nó.
Trí nhớ hoạt động có quá trình, bao gồm hai giai đoạn cơ bản. Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn ghi nhớ các vật thể và các hiện tượng đã được tri giác (ghi nhớ tri giác). Giai đoạn thứ hai, nhớ lại những gì đã ghi nhớ (ghi nhớ biểu tượng) ,đây là giai đoạn kết quả của quá trình ghi nhớ, nó bao gồm hai cấp độ: nhận ra (mức độ thấp) và nhớ ra (mức độ cao). Người ta có thể nhớ lại không chủ định hoặc nhớ lại có chủ định.
Điều này rất có ý nghĩa đối với vấn đề huy động trí nhớ để hồi cố những ký ức tình cảm và vốn sống, vốn văn học… trong việc xây dựng biểu tượng. Mỗi lần có sự nhớ lại thì lại không phải là sự sao chép đúng hoàn toàn cái đã xảy ra khi tri giác nên biểu tượng được nhớ lại trong trí nhớ cũng không phải sự sao chép hoàn toàn những tri giác đã có trước đây, mà có sự biến dạng ít nhiều. Về hiện tượng này, A.Ruđích lý giải: "Bất kỳ sự ghi nhớ hay học thuộc nào cũng đòi hỏi phải thiết lập các mối liên hệ thần kinh tương ứng hay còn gọi là liên tưởng" [24, tr. 293] Hoạt động liên tưởng.
„„Liên tưởng chỉ mối liên hệ giữa các yếu tố tâm lý, nhờ đó sự xuất hiện của một yếu tố này trong những điều kiện nhất định gây nên một yếu tố khác liên quan với nó ” [11, tr. Tâm lý học phân biệt ba loại liên tưởng: Liên tưởng gần nhau: diễn ra theo cơ chế tác động hệ quả, thể hiện mối liên hệ lôgích thứ tự hô ứng do ký ức tự gợi ra. Liên tưởng giống nhau (hay còn gọi là liên tưởng tương đồng): dựa vào các mối liên hệ thần kinh do hai đối tượng giống nhau gây nên. Chúng xảy ra trong trường hợp sự tri giác về một vật thể nào đó sẽ gây nên trong trí nhớ sự nhớ lại một vật thể tương tự ngay cả lúc nó không được tri giác đồng thời hay bên cạnh vật thứ nhất.
Hiện tượng liên tưởng này có ý nghĩa tích cực vì nó tạo cho chủ thể có cơ sở so sánh, đồng thời làm cho việc ghi nhớ có chủ đích đạt hiệu quả tốt hơn. Liên tưởng tương phản: có hình thức gần với liên tưởng giống nhau, nhưng 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ở đây sự tri giác một vật thể nào đó lại gây nên trong trí nhớ hồi ức về một vật thể khác có những dấu hiệu (đặc điểm, tính chất) hoàn toàn ngược lại. So với liên tưởng giống nhau, loại liên tưởng này giúp cho con người có khả năng tư duy so sánh rõ hơn. Hoạt động tưởng tượng.
Có thể xem "tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có" [5, tr. Các nhà tâm lý học chia tưởng tượng làm hai loại: - Tưởng tượng tiêu cực: ở một số hoàn cảnh nhất định, những hình ảnh do tưởng tượng mà có được sẽ có thể xuất hiện như là một vật thay thế cho hoạt động, dẫn con người vào địa hạt của những biểu tượng hoang đường. - Tưởng tượng tích cực: tạo ra những hình ảnh phù hợp nhằm đáp ứng những nhu cầu bức xúc, kích thích tính tích cực và tính thực tế của con người, nó biểu hiện ở hai cấp độ: Cấp độ thứ nhất, tưởng tượng tái tạo là quá trình tưởng tượng tạo ra những hình ảnh chỉ là mới đối với cá nhân người tưởng tượng và dựa trên cơ sở miêu tả hoặc gợi ý của người khác. Cấp độ thứ hai, tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây dựng hình ảnh mới một cách độc lập.
Những hình ảnh được xây dựng được coi là mới với cả bản thân người tưởng tượng và mới với cả xã hội, mang dấu ấn riêng của từng cá nhân [5, tr. 173-174] Về điều kiện, quá trình tưởng tượng trước hết phụ thuộc vào nhu cầu, hứng thú của con người.