Rèn Kỹ Năng Viết Văn Thuyết Minh Sự Kiện Cho Học Sinh Lớp 6 Theo Tiến Trình

Hướng dẫn chi tiết cách rèn luyện kĩ năng viết văn thuyết minh về sự kiện cho học sinh lớp 6. Bài viết đi sâu vào tiến trình viết, giúp các em dễ dàng nắm bắt.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

122
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG TẠO LẬP VĂN BẢN THUYẾT MINH THUẬT LẠI MỘT SỰ KIỆN CHO HỌC SINH LỚP 6 DỰA VÀO TIẾN TRÌNH VIẾT

1.1. Kỹ năng tạo lập văn bản

1.1.1. Khái niệm văn bản

1.1.2. Khái niệm tạo lập văn bản

1.1.3. Khái niệm kỹ năng

1.1.4. Khái niệm kỹ năng tạo lập văn bản

1.2. Văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện

1.2.1. Khái niệm văn bản thuyết minh

1.2.2. Những yêu cầu của văn bản thuyết minh

1.3. Dạy viết theo tiến trình

1.3.1. Đặc điểm dạy viết theo tiến trình

1.4. Thực trạng dạy viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện cho học sinh lớp 6

1.4.1. Thực trạng kỹ năng viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện của học sinh lớp 6

1.4.2. Thực trạng tổ chức dạy viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện cho học sinh lớp 6

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG TẠO LẬP VĂN BẢN THUYẾT MINH THUẬT LẠI MỘT SỰ KIỆN CHO HỌC SINH LỚP 6 DỰA VÀO TIẾN TRÌNH VIẾT

2.1. Nguyên tắc rèn luyện kĩ năng viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện cho học sinh lớp 6

2.1.1. Bám sát đặc trưng của văn bản thuyết minh và yêu cầu rèn kĩ năng viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện

2.1.2. Bám sát tiến trình dạy viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện

2.1.3. Đảm bảo tính vừa sức với học sinh lớp 6

2.2. Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện cho học sinh lớp 6 dựa vào tiến trình viết

2.2.1. Tổ chức rèn kĩ năng viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện cho học sinh lớp 6 ở giai đoạn trước khi viết

2.2.2. Tổ chức rèn kĩ năng viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện cho học sinh lớp 6 ở giai đoạn trong khi viết

2.2.3. Tổ chức rèn kĩ năng viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện cho học sinh lớp 6 ở giai đoạn sau khi viết

3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Nội dung thực nghiệm

3.3. Đối tượng thực nghiệm

3.4. Địa bàn, thời gian thực nghiệm

3.5. Kết quả thực nghiệm

3.6. Tổ chức thực nghiệm

3.7. Đánh giá kết quả sau thực nghiệm

3.8. Đánh giá kết quả thực nghiệm

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Văn Thuyết Minh Sự Kiện Lớp 6 Khái Niệm Yêu Cầu

Văn thuyết minh sự kiện là một thể loại văn bản quan trọng, cung cấp thông tin chi tiết, chính xác về một sự kiện. Tính chất quan trọng của văn bản này nằm ở khả năng cung cấp thông tin chi tiết, chính xác về vấn đề, giúp người đọc hiểu rõ và nắm bắt bản chất của sự việc. Trong việc thuật lại một sự kiện, văn thuyết minh cung cấp các chi tiết quan trọng về thời gian, nguyên nhân và hậu quả của sự kiện. Không chỉ đơn giản là một nguồn thông tin, văn bản thuyết minh còn hỗ trợ người đọc trong việc đánh giá và ra quyết định dựa trên thông tin cung cấp. Nó cũng tạo ra một nền tảng cho việc học hỏi và nghiên cứu tiếp theo, giúp người đọc phát triển sự hiểu biết sâu rộng về sự kiện hoặc chủ đề được đề cập. Hơn nữa, văn bản thuyết minh khuyến khích người đọc suy nghĩ sáng tạo, phân tích sự việc từ nhiều góc độ khác nhau và mở rộng tư duy của họ. Đây không chỉ là một công cụ diễn đạt thông tin mà còn là một công cụ quan trọng hỗ trợ cho việc hiểu biết, đánh giá và phát triển kiến thức. SGK Ngữ văn 6 định nghĩa: Thuyết minh thuật lại một sự kiện là kiểu bài người viết dùng lời văn và một số phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ để thuật lại một sự kiện theo đúng diễn biến trong thực tế nhằm giúp người đọc, người nghe nắm được diễn biến của sự kiện và những thông tin liên quan đến sự kiện ấy. Thuyết minh thuật lại một sự kiện gồm nhiều kiểu đó là: Thuyết minh thuật lại một sự kiện về văn hóa; Thuyết minh thuật lại một sự kiện về đời sống sinh hoạt; Thuyết minh thuật lại một sự kiện ở trường; Thuyết minh thuật lại một sự kiện ở địa phương. Hình thức thuyết minh về một sự kiện, có thể nhớ lại sự kiện mà em trực tiếp tham gia hoặc tìm hiểu qua các phương tiện thông tin đại chúng, em tìm hiểu quan sát và trực tiếp tham gia. Văn bản thuyết minh cần phải rõ ràng và cụ thể trong việc trình bày thông tin. Điều này đòi hỏi sử dụng từ vựng và ngôn ngữ chính xác để tránh sự mơ hồ và hiểu lầm. Văn bản thuyết minh cần có một cấu trúc logic, bao gồm phần giới thiệu, phần chính và phần kết luận. Mỗi phần phải liên kết với nhau một cách mạch lạc để làm cho nội dung dễ hiểu. Để làm cho thông tin trở nên cụ thể và dễ hiểu, văn bản thuyết minh thường sử dụng ví dụ, minh họa, và các ví dụ cụ thể. Sự kết hợp của nguồn thông tin: Văn bản thuyết minh nên kết hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để làm cho nó trở nên đa chiều và thú vị hơn.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Kỹ Năng Viết Văn Thuyết Minh Lớp 6

Dạy viết văn bản thuyết minh trong trường cấp THCS có tầm quan trọng đặc biệt vì đây là giai đoạn quan trọng trong sự phát triển của HS. Trong giai đoạn THCS, HS cần xây dựng nền tảng vững chắc về kỹ năng viết. Dạy viết văn bản thuyết minh giúp các em làm quen với quy trình viết, từ việc thu thập thông tin, tổ chức ý, đến việc diễn đạt một cách rõ ràng và logic. Việc viết văn bản thuyết minh đòi hỏi HS phải tư duy logic để xây dựng luận điểm và phải phân tích, xử lý thông tin một cách có trình tự. Điều này giúp các em phát triển khả năng tư duy và phân tích, kỹ năng quan trọng cho nhiều lĩnh vực khác. Khi viết văn bản thuyết minh yêu cầu học sinh phải biết cách trình bày ý kiến một cách thuyết phục để làm cho độc giả hoặc người nghe hiểu và tin tưởng vào luận điểm của mình. Điều này cải thiện khả năng giao tiếp và thuyết phục của các em. Kỹ năng viết văn bản thuyết minh không chỉ cần thiết trong quá trình học cấp THCS mà còn rất hữu ích khi học sinh chuyển lên cấp THPT và trong tương lai, trong việc học tập và làm việc. Dạy viết dựa vào tiến trình là một quan điểm hiện đại trong dạy viết ở nhà trường phổ thông. Theo quan điểm này, viết không chỉ là sản phẩm cuối cùng mà còn là quá trình tư duy phức tạp. Tại Việt Nam, lí thuyết dạy viết dựa trên tiến trình mới được giới thiệu khái quát vào năm 2016. Theo lí thuyết này, viết được thể hiên qua các giai đoạn đó là: trước khi viết, trong khi viết và sau khi viết.

1.2. Yêu Cầu Cần Có Của Một Bài Văn Thuyết Minh Sự Kiện

Yêu cầu của văn bản thuyết minh: Văn bản thuyết minh cần phải rõ ràng và cụ thể trong việc trình bày thông tin. Điều này đòi hỏi sử dụng từ vựng và ngôn ngữ chính xác để tránh sự mơ hồ và hiểu lầm. Văn bản thuyết minh cần có một cấu trúc logic, bao gồm phần giới thiệu, phần chính và phần kết luận. Mỗi phần phải liên kết với nhau một cách mạch lạc để làm cho nội dung dễ hiểu. Văn bản thuyết minh nên được chia thành các đoạn văn ngắn, mỗi đoạn tập trung vào một ý chính hoặc một phần của chủ đề. Sử dụng ví dụ và minh họa: Để làm cho thông tin trở nên cụ thể và dễ hiểu, văn bản thuyết minh thường sử dụng ví dụ, minh họa, và các ví dụ cụ thể. Điều này giúp người đọc hình dung và áp dụng kiến thức. Sử dụng ngôn ngữ trung tính: Văn bản thuyết minh nên sử dụng ngôn ngữ trung tính và tránh sử dụng lời kêu gọi hoặc phê phán. Mục tiêu là trình bày thông tin một cách khách quan và trung thực. Sự kết hợp của nguồn thông tin: Văn bản thuyết minh nên kết hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để làm cho nó trở nên đa chiều và thú vị hơn.

II. Thách Thức Khi Viết Văn Thuyết Minh Sự Kiện Lớp 6

HS lớp 6 đánh dấu bước chuyển quan trọng từ cấp tiểu học vào môi trường THCS, HS ở độ tuổi này đối mặt không chỉ với sự thay đổi về môi trường học tập mà còn với những thách thức mới trong quá trình giảng dạy và học tập. HS lớp 6 không chỉ gặp các bài văn tả cảnh, tả người, tả đồ vật đơn giản nữa mà còn tiếp xúc với các dạng bài văn nghị luận. Vì vậy, việc áp dụng một phương pháp dạy làm văn linh hoạt và phù hợp là cực kỳ quan trọng. Thay vì tập trung vào việc truyền đạt kiến thức, việc dạy viết nên tập trung vào quá trình hình thành kỹ năng viết. Phương pháp này giúp HS phát triển khả năng tư duy, biểu đạt ý và logic trong việc nghĩ và viết. HS ở lớp 6 cần được tiếp cận kỹ năng tạo lập văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện theo tiến trình, một cách tiếp cận hiệu quả để cải thiện khả năng viết của mình. Bằng cách chia nhỏ bài viết thành từng giai đoạn và tập trung vào từng giai đoạn một, HS có cơ hội hiểu rõ hơn về nguyên tắc và quy trình viết. Kết quả khảo sát thực tế cho thấy kỹ năng viết văn thuyết minh thuật lại một sự kiện của HS còn khá thấp. Trong đó, GV đánh giá kỹ năng ở giai đoạn trước khi viết là yếu nhất, sau đó là giai đoạn viết và sau khi viết. Điều này cho thấy rằng học sinh cần cải thiện nhiều trong việc thực hiện các bước của quá trình viết văn thuyết minh.Việc đánh giá kỹ năng viết của học sinh theo các giai đoạn khác nhau trong quá trình viết văn thuyết minh giúp xác định rõ ràng những khó khăn cụ thể mà học sinh đang gặp phải.

2.1. Những Khó Khăn Thường Gặp Khi Viết Văn Thuyết Minh

Một số khó khăn khi viết văn thuyết minh như: Thiếu thông tin về đối tượng thuyết minh, HS không xác định được những đặc điểm quan trọng, tiêu biểu của đối tượng; Diễn đạt thiếu mạch lạc, logic, thông tin cung cấp không chính xác; Không biết cách vận dụng các phương pháp thuyết minh phù hợp; Bài viết khô khan, thiếu hấp dẫn. Học sinh chưa tích cực, mạnh dạn chia sẻ bài viết, điều này cũng gây ra khó khăn cho GV trong việc phản hồi, đánh giá HS. Một số ít GV gặp phải khó trong việc lựa chọn vấn đề thuyết minh do chất lượng HS không đồng đều.Trong quá trình dạy học viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện cho học sinh lớp 6, GV còn gặp một số khó khăn nhất định. Trong đó phần lớn khó khăn do thời gian trong một tiết học chỉ có 45’ không đủ để GV vừa ôn tập lý thuyết, tổ chức cho HS thực hành và đánh giá kết quả. Một khó khăn nữa mà có tới 57,1% GV gặp phải đến từ việc GV chưa tạo được hứng thú cho HS vì thế mà HS cũng chưa tích cực trong giờ học.

2.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Dạy Viết Theo Tiến Trình

Thay vì tập trung vào việc truyền đạt kiến thức, việc dạy viết nên tập trung vào quá trình hình thành kỹ năng viết. Phương pháp này giúp HS phát triển khả năng tư duy, biểu đạt ý và logic trong việc nghĩ và viết. Việc dạy viết văn thuyết minh dựa trên tiến trình là một phương pháp linh hoạt, cho phép HS từng bước tiếp cận với các kỹ năng viết phức tạp hơn, như viết văn nghị luận, từ đó nâng cao khả năng sáng tạo và phân tích của HS.HS ở lớp 6 cần được tiếp cận kỹ năng tạo lập văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện theo tiến trình, một cách tiếp cận hiệu quả để cải thiện khả năng viết của mình. Bằng cách chia nhỏ bài viết thành từng giai đoạn và tập trung vào từng giai đoạn một, HS có cơ hội hiểu rõ hơn về nguyên tắc và quy trình viết. Quá trình này giúp HS phát triển kỹ năng tạo lập văn bản thuyết minh một cách linh hoạt.

III. Phương Pháp Dạy Viết Văn Thuyết Minh Sự Kiện Lớp 6 Hiệu Quả

Để phát triển năng lực viếtHS, cần dạy học tạo lập văn bản dựa vào tiến trình từ đó HS có thể chủ động trong việc tạo lập một văn bản bất kì, áp dụng vào thực tế cuộc sống. Việc dạy viết dựa vào tiến trình giúp HS có cơ hội khám phá tiến trình viết của chính mình, từ đó phát triển năng lực viết cho HS và góp phần cải thiện chất lượng bài viết của HS thông qua quá trình tự chỉnh sửa hoặc chỉnh sửa lẫn nhau. Học viết theo tiến trình, HS có cơ hội tham gia tích cực vào tiến trình tự nhận thức và nhận ra được những tiến bộ của bản thân trong từng giai đoạn. Quá trình luyện viết văn bản thuyết minh không chỉ cần thiết có các phương pháp đi từ dễ đến khó, từ cơ bản đến nâng cao…mà còn trú trọng cho học sinh cách sử dùng từ ngữ, câu và sự liên kết câu cũng như những định hướng đúng để viết được văn bản thuyết minh đạt yêu cầu cao… Chính vì vậy dạy học tạo lập văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện là một tiến trình thực hành bao gồm nhiều giai đoạn: Phân tích đề văn để từ đó phát triển tư duy lo gic, hình thành ý tưởng, tìm ý, sắp xếp ý, sau đó sử dụng các thao tác lập luận trong bài viết, rà soát và đánh giá bài viết do đó cần phải đảm bảo các chiến lược có tính nguyên tắc.

3.1. Rèn Kỹ Năng Trước Khi Viết Lựa Chọn Thu Thập Tìm Ý

Để có một bài văn thuyết minh tốt giáo viên cần hướng dẫn HS thực hiện tốt các kĩ năng: * Kỹ năng lựa chọn sự kiện - Là khả năng chọn lọc và quyết định về việc chọn sự kiện hoặc trải nghiệm để tập trung hoặc bao quát trong một bài thuyết minh sự kiện đó đối với nội dung chính của thông điệp HS muốn truyền đạt. GV nên giao cho HS đề bài để HS có thời gian suy nghĩ, nhớ lại những lễ hội hoặc mà các em đã được tham gia hoặc chứng kiến hoặc tìm hiểu.* Kỹ năng thu thập dữ liệu về sự kiện: Kỹ năng thu thập dữ liệu về sự kiện để viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện là một quá trình chặt chẽ và cần sự tổ chức để HS có đủ thông tin để tạo nên một bài viết thú vị và chân thực, Giáo viên hướng dẫn học sinh thu thập từ nhiều tư liệu khác nhau:Quan sát trực tiếp, chọn lọc, ghi chép kiến thức về sự kiện;Sưu tầm kiến thức từ sách, báo, mạng.* Kỹ năng tìm ý, lập dàn ý. Kỹ năng tìm ý là khả năng xác định và lựa chọn những ý chính, thông tin quan trọng từ một lượng lớn thông tin có sẵn.GV hướng dẫn HS tìm ý phải thống nhất 3 nội dung:- Thời gian, địa điểm diễn ra sự kiện;- Hoạt động chính (trình tự, kết quả của hoạt động);- Ý nghĩa của sự kiện và có thể kết hợp các tài liệu sưu tầm qua báo chí, Intenet… Trong bước này, GV hướng dn mỗi HS dựa vào kết quả tìm thông tin mà các em đã chuẩn bị, phác thảo ý tưởng cho bài viết.

3.2. Rèn Kỹ Năng Trong Khi Viết Phát Triển Ý Thành Đoạn Văn

Trong giai đoạn này, HS cần bám sát dàn ý đã lập. Ngoài ra, GV cần hướng dẫn HS chọn ngôi tường thuật phù hợp, thống nhất; Thuyết minh về một sự kiện một cách chi tiết và có trình tự, cung cấp cho người đọc các thông tin về bối cảnh, nhân vật tham gia, diễn biến của sự kiện, nên theo trình tự về thời gian; biểu lộ cảm xúc, đánh giá về một sự kiện một cách ngắn gọn. Nếu như tìm ý, lập dàn ý là việc hình thành tư duy, ý tưởng thì viết bài là việc hiện thực hóa tư duy, ý tưởng của người viết. GV cần thiết kế các dạng bài tập để HS thực hành luyện tập kỹ năng viết bài. Ví dụ, bài tập lựa chọn hình thức trình bày đoạn văn phù hợp với đối tượng và mục đích thuyết minh.

3.3. Rèn Kỹ Năng Sau Khi Viết Đọc Sửa và Hoàn Thiện Văn Bản

Đọc và sửa VB là hoạt động chủ đạo của giai đoạn sau khi viết. Giai đoạn này giúp HS điều chỉnh các ý tưởng nếu cần, kiểm tra, sửa lỗi bài viết; suy ngẫm về các biện pháp mà bản thân đã sử dụng trong quá trình viết VBTM, về những quan điểm, nhược điểm của từng bản nháp để có những chỉnh sửa hoặc thay đổi phù hợp. Không chỉ vậy, giai đoạn này còn có ý nghĩa giúp HS học cách đọc VB trên vai trò của người đọc để hiểu cảm xúc, suy nghĩ của người đọc, nhận ra người đọc cần gì ở VB này để từ đó rút kinh nghiệm cho hoạt động viết VBTM. Rà soát và chỉnh sửa về xác định rõ người tường thuật trực tiếp tham gia hay chỉ chứng kiến sự kiện và sử dụng ngôi tường thuật thích hợp. Ngoài việc sử dụng hệ thống các câu hỏi để hướng dẫn HS tìm hiểu đề bài thì GV có thể sử dụng các phiếu học tập để định hướng HS tự tìm hiểu đề thông qua các gợi dẫn bằng cách trả lời phiếu.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Bài Văn Mẫu Tiêu Chí Đánh Giá

Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh đối chiếu, phân tích, phân loại. Trong một bài văn thuyết minh, người viết có thể sử dụng kết hợp các phương pháp để làm văn bản thuyết minh trở nên sinh động và gây ấn tượng hơn với người đọc. Ví dụ: - Phương pháp thuyết minh nêu định nghĩa, giải thích: Trong phương pháp này, HS có thể nếu định nghĩa bằng cách định nghĩa, giải thích sự vật, sự việc đó. - Phương pháp nêu ví dụ: HS cũng có thể ví dụ cụ thể về một việc nào đó để chứng minh những lập luận của mình là đúng. Ví dụ như nêu ra sự gia tăng của dịch sốt xuất huyết thông qua thống kê của bộ y tế, chứng minh sự gia tăng dân sô thông qua thống kê hàng năm. - Phương pháp liệt kê: Ở phần này, HS có thể liệt kê những bộ phận của hiện tượng, sự việc đang được nhắc đến. Ví dụ như Bộ phần của một chiếc bàn học bao gồm mặt bàn, chân bàn, ngăn kéo…- Phương pháp phân loại, phân tích: Đây được coi là phương pháp quan trọng và được sử dụng nhiều nhất trong văn bản thuyết minh. Vì mục đích của văn bản thuyết minh là nhằm giúp cho người đọc hiểu được bản chất, đặc điểm, công dụng của sự vật, hiện tượng nên để làm nổi bật được mục đích đó, bắt buộc người viết phải sử dụng đến phương pháp phân loại và phân tích.

4.1. Phân Tích Bài Văn Thuyết Minh Sự Kiện Mẫu Lớp 6

Ví dụ một bài văn mẫu: Thuyết minh về một hoạt động em thích ở trường: Giờ đọc sách ở thư viện. Mở bài: Giới thiệu về giờ đọc sách ở thư viện là một hoạt động mà em yêu thích. Thân bài: Miêu tả chi tiết về hoạt động giờ đọc sách: Thời gian, địa điểm: Diễn ra vào mỗi chiều thứ năm hàng tuần, tại thư viện trường; Không gian thư viện: Yên tĩnh, thoáng mát, nhiều sách; Các hoạt động trong giờ đọc sách: Chọn sách, đọc sách, trao đổi sách, viết cảm nhận về sách; Cảm xúc của em khi tham gia giờ đọc sách: Vui vẻ, thoải mái, học hỏi được nhiều điều. Kết bài: Khẳng định lại sự yêu thích của em đối với giờ đọc sách và mong muốn hoạt động này sẽ được duy trì và phát triển hơn nữa.

4.2. Tiêu Chí Đánh Giá Bài Viết Thuyết Minh Sự Kiện Lớp 6

Có thể xây dựng các tiêu chí đánh giá như sau: Yêu cầu Gợi ý chỉnh sửa. Giới thiệu được những thông tin Nếu bài viết chưa giới thiệu cụ thể sự kiện cần thiết về sự kiện được thuyết được thuyết minh… thì cần bổ sung minh. Miêu tả chi tiết, rõ ràng về sự kiện Bổ sung thông tin (nếu cần) hoặc điều được thuyết minh chỉnh các câu, đoạn cho bài viết mạch lạc. Nêu được ý nghĩa của sự kiện được Nếu việc nêu ý nghĩa của sự kiện được thuyết minh thuyết minh còn sơ sài hoặc chưa chính xác thì cần bổ sung hoặc điều chỉnh. Đảm bảo yêu cầu về chính tả và Rà soát lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,… diễn đạt trong bài viết và chỉnh sửa

V. Kết Luận Hướng Phát Triển Kỹ Năng Viết Thuyết Minh

Rèn kỹ năng viết văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện cho học sinh lớp 6 dựa vào tiến trình viết là một vấn đề rất cần thiết, quan trọng. Khi viết văn thuyết minh phải thực hiện theo đúng quy trình tạo lập văn bản qua 3 giai đoạn: Trước khi viết, trong khi viết và sau khi viết. Việc viết theo tiến trình đòi hỏi kiên nhẫn và sự tỉ mỉ, nhưng nó sẽ giúp em học sinh tạo ra các bài viết chất lượng và sâu sắc hơn. Sự chú ý đến người viết và quá trình tạo lập văn bản đã dẫn đến phương pháp dạy viết dựa trên quá trình. Cách tiếp cận này nhấn mạnh chu kì của hoạt động viết, từ việc chọn chủ đề, hình thành và sắp xếp ý tưởng, viết bản nháp, phản hồi và chỉnh sửa các văn bản đã viết.

5.1. Đánh Giá Hiệu Quả Các Biện Pháp Rèn Kỹ Năng

Việc ứng dụng các biện pháp rèn kỹ năng trên sẽ giúp HS nắm vững kiến thức, kỹ năng tạo lập văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện. HS biết cách lựa chọn, thu thập thông tin và tìm ý cho bài viết; biết cách triển khai ý thành đoạn văn mạch lạc; biết cách đọc, sửa và hoàn thiện văn bản. HS tự tin, chủ động và sáng tạo hơn trong quá trình viết.

5.2. Gợi Ý Các Hoạt Động Mở Rộng và Nâng Cao Kỹ Năng

GV có thể tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ văn học để HS có cơ hội thực hành viết văn thuyết minh về nhiều chủ đề khác nhau. GV có thể khuyến khích HS tham gia các cuộc thi viết văn để rèn luyện kỹ năng và thử sức mình. GV có thể sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ HS trong quá trình viết văn, ví dụ như sử dụng các phần mềm hỗ trợ viết văn, các trang web cung cấp thông tin và tài liệu tham khảo.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG TẠO LẬP VĂN BẢN THUYẾT MINH THUẬT LẠI MỘT SỰ KIỆN CHO HỌC SINH LỚP 6 DỰA VÀO TIẾN TRÌNH VIẾT 1. Kỹ năng tạo lập văn bản 1. Khái niệm văn bản Văn bản là một khái niệm tuy gần gũi nhưng lại rất đa dạng về thể loại. Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học hiện nay đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn bản khác nhau, cụ thể: Theo Từ điển thuật ngữ văn học, với nghĩa rộng: văn bản là (1) Bản ghi bằng chữ viết hoặc in, một phát ngôn hoặc một thông báo ngôn từ (phân biệt với việc thực hiện phát ngôn hoặc thông báo ấy bằng nói miệng); (2) Phương diện tri giác của tác phẩm được biểu đạt và ghi nhận bằng các kí hiệu ngôn ngữ; (3) Đơn vị nhỏ nhất (có tính thống nhất tương đối và tính độc lập tương đối) của giao tiếp bằng ngôn từ.

Với nghĩa hẹp: “văn bản là một chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông báo mà tác giả (người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận)”.270-271] Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: “Văn bản là chuỗi các đơn vị kí hiệu ngôn ngữ làm thành một thể thống nhất bằng mối liên hệ ý nghĩa mà thuộc tính cơ bản của nó là sự hoàn chỉnh về hình thức và nội dung ; sản phẩm của lời nói được định hình dưới dạng chữ viết hoặc in ấn.413] Theo SGK Ngữ văn 6: “Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất, có liên kết, mạch lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp” [37, tr. Khái niệm trên chú ý đến những tính chất cơ bản tạo thành văn bản để thực hiện giao tiếp, cung cấp cách hiểu cơ bản về văn bản cho HS cấp THCS. Sách Ngữ văn 9 chỉnh lí quan niệm: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nó là một thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức. 10 Trong cuốn Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm viết: “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử.

Ngoài các câu – phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc văn bản chỉ rõ vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với cấu trúc văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy” [5, tr12]. Kế thừa các quan niệm trên, tác giả luận văn cho rằng: Văn bản được hiểu là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ mang tính chỉnh thể ở dạng viết, nói, thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định. Khái niệm tạo lập văn bản Tạo lập VB được hiểu là khả năng tạo ra một VB mới ở dạng nói hoặc viết, hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức, trình bày bố cục, tổ chức, xây dựng VB đúng quy chuẩn, có ý nghĩa.

Trong quá trình tạo lập văn bản, người tạo lập cần xác định rõ mình sẽ đạt được mục đích nào. Sau khi tạo lập xong cần đối chiếu với những mục đích đó để đạt hiệu quả giao tiếp trong văn bản. Muốn đạt hiệu quả giao tiếp, người viết phải lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp với đối tượng giao tiếp. Trong khi tạo lập văn bản người viết, người nói phải trả lời được câu hỏi: Viết cho ai đọc? Nói cho ai nghe? Những câu trả lời là căn cứ để người viết, người nói lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và thậm chí điều chỉnh cả nội dung giao tiếp sao cho phù hợp với đối tượng tiếp nhận.

Bên cạnh đó, khi tạo lập văn bản cần chú ý cả hoàn cảnh giao tiếp. Khái niệm kỹ năng Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn” 36. 11 Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý làm chủ biên thì kỹ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận vào thực tế: Rèn luyện kỹ năng thẩm mĩ” [8] Đặng Thành Hưng cho rằng KN là một dạng chuyên biệt của năng lực, KN không phải là khả năng của cá nhân, mà là thuộc tính có thật ở cá nhân. KN là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học – tâm lí khác của cá nhân như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân.

để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chu n hay qui định [43]. Tác giả Nguyễn Bá Minh cho rằng, “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một loạt hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiến thức đã có đề giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở một cấp độ tiêu chuẩn xác định”. Nhu vậy, theo ông thì kỹ năng chưa hẳn là năng lực mà chỉ là khả năng, khả năng có thể bộc lộ và không được bộc lộ trong hoạt động thực tế [34] Theo nhóm tác giả cuốn Nâng cao kỹ năng làm bài văn nghị luận: “Kỹ năng được hiểu như là một khả năng của con người có thể hoàn thành các nhiệm vụ trong những điều kiện mới, dựa trên tri thức và kinh nghiệm đã được tích lũy và một loạt các kĩ xảo trong mối quan hệ mật thiết với nhau; kỹ năng và kĩ xảo luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau” 37. Kế thừa các quan niệm trên, tác giả luận văn cho rằng: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nhất định vào thực tế.

Kỹ năng là một quá trình gồm nhiều yếu tố, thao tác, luôn gắn với một hành động, hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động đó phù hợp với những mục tiêu và điều kiện thực tế. Khái niệm kỹ năng tạo lập văn bản Trong phạm vi của luận văn, kỹ năng tạo lập văn bản là khả năng tạo ra các bài viết một cách hiệu quả và có ý nghĩa. Kỹ năng này bao gồm khả năng 12 diễn đạt ý tưởng, thông tin, ý kiến, và cảm xúc của tác giả một cách rõ ràng, mạch lạc và hấp dẫn để truyền đạt thông điệp hoặc thuyết phục độc giả.Văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện 1. Khái niệm văn bản thuyết minh VBTM là kiểu VB được sử dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực của cuộc sống.

Từ lâu, văn thuyết minh đã được sử dụng dùng để cung cấp thông tin, tri thức về những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống với cách thức chủ yếu là trình bày và giới thiệu đặc điểm, cấu tạo, quy luật của đối tượng. Thuyết minh là thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống và nhiều ngành khoa học. Theo “Từ điển Hán Việt” của Phan Văn Các (1994): “Thuyết minh nghĩa là nói rõ, giải thích, giới thiệu, hay còn có nghĩa là hướng dẫn cách dùng” [10]. Vậy có thể hiểu thuyết minh là nói hoặc chú thích cho người ta hiểu rõ hơn về những sự vật, sự việc hoặc hình ảnh đã được đưa ra.

Tác giả Trần Thị Thành trong quan niệm: “Văn thuyết minh giúp chúng ta hiểu biết một cách đầy đủ, rõ ràng các phương diện của cuộc sống. Thuyết minh được dùng trong đời sống hằng ngày, trong khoa học, chính trị, Đó là loại văn bản mà ngành nghề nào cũng cần đến” [4, tr5]. Theo cuốn “Làm văn”, Đỗ Ngọc Thống chủ biên: “Văn thuyết minh là loại văn trình bày, giới thiệu, phổ biến hoặc giải thích nhằm làm rõ đặc điểm cơ bản của một đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội” hướng dẫn cho con người tìm hiểu và sử dụng chúng. Nói một cách khác, văn thuyết minh là loại văn trình bày, giới thiệu, phổ biến hoặc giải thích nhằm làm rõ đặc điểm cơ bản của một đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội.

[40] Sách giáo khoa lớp 8 đã định nghĩa: “Thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,… của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích”. 13 Như vậy, thuyết minh nhằm làm cho người đọc hiểu đúng về đối tượng chứ không cốt giúp người đọc hình dung, có những xúc cảm chủ quan về đối tượng như miêu tả, biểu cảm. Thuyết minh không xây dựng cốt truyện, diễn biến sự việc, như kể chuyện (tự sự). Thuyết minh trình bày nguyên lý, cách thức, quy luật của đối tượng chứ không dùng lập luận, suy luận, lý lẽ… để giải quyết vấn đề bằng luận điểm, luận cứ như văn nghị luận.Trong văn bản thuyết minh có dùng giải thích nhưng là giải thích bằng tri thức khoa học: cơ chế, quy luật của sự vật, cách thức sử dụng và bảo quản một cách khách quan… còn giải thích trong văn nghị luận là dùng dẫn chứng, lí lẽ để làm sáng tỏ vấn đề nhằm trình bày cách hiểu, quan điểm đánh giá đối tượng của người viết.

Đối tượng của văn thuyết minh là các hiện tượng xã hội như lịch sử, con người, chính trị, tôn giáo; là các hiện tượng tự nhiên như: địa lý, động vật, thực vật, hiện tượng thời tiết; là các vật dụng trong đời sống như: cách làm (nấu) một món ăn, gieo trồng; là văn học nghệ thuật. Có thể nói, đối tượng của văn thuyết minh vô cùng phong phú, mọi hiện tượng, sự vật trong đời sống đều có thể là đối tượng của thuyết minh, mọi ngành nghề đều cần đến thuyết minh. Ví dụ: - Giới thiệu một nhân vật lịch sử. - Giới thiệu một miền quê, một vùng địa lí.

- Giới thiệu một đặc sản, một món ăn. - Giới thiệu một vị thuốc. - Giới thiệu một loài hoa, loài chim, loài thú. - Thuyết minh Hội khỏe Phù Đổng - Thuyết minh về một sự kiện văn hóa hay lịch sử Có thể nói, văn thuyết minh đã thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực, trở thành loại VB thông dụng, quan trọng và luôn cần thiết trong cuộc sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ