CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG TẠO LẬP VĂN BẢN THUYẾT MINH THUẬT LẠI MỘT SỰ KIỆN CHO HỌC SINH LỚP 6 DỰA VÀO TIẾN TRÌNH VIẾT 1. Kỹ năng tạo lập văn bản 1. Khái niệm văn bản Văn bản là một khái niệm tuy gần gũi nhưng lại rất đa dạng về thể loại. Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học hiện nay đã đưa ra nhiều định nghĩa về văn bản khác nhau, cụ thể: Theo Từ điển thuật ngữ văn học, với nghĩa rộng: văn bản là (1) Bản ghi bằng chữ viết hoặc in, một phát ngôn hoặc một thông báo ngôn từ (phân biệt với việc thực hiện phát ngôn hoặc thông báo ấy bằng nói miệng); (2) Phương diện tri giác của tác phẩm được biểu đạt và ghi nhận bằng các kí hiệu ngôn ngữ; (3) Đơn vị nhỏ nhất (có tính thống nhất tương đối và tính độc lập tương đối) của giao tiếp bằng ngôn từ.
Với nghĩa hẹp: “văn bản là một chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông báo mà tác giả (người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận)”.270-271] Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: “Văn bản là chuỗi các đơn vị kí hiệu ngôn ngữ làm thành một thể thống nhất bằng mối liên hệ ý nghĩa mà thuộc tính cơ bản của nó là sự hoàn chỉnh về hình thức và nội dung ; sản phẩm của lời nói được định hình dưới dạng chữ viết hoặc in ấn.413] Theo SGK Ngữ văn 6: “Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất, có liên kết, mạch lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp” [37, tr. Khái niệm trên chú ý đến những tính chất cơ bản tạo thành văn bản để thực hiện giao tiếp, cung cấp cách hiểu cơ bản về văn bản cho HS cấp THCS. Sách Ngữ văn 9 chỉnh lí quan niệm: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nó là một thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức. 10 Trong cuốn Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm viết: “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử.
Ngoài các câu – phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc văn bản chỉ rõ vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với cấu trúc văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy” [5, tr12]. Kế thừa các quan niệm trên, tác giả luận văn cho rằng: Văn bản được hiểu là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ mang tính chỉnh thể ở dạng viết, nói, thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định. Khái niệm tạo lập văn bản Tạo lập VB được hiểu là khả năng tạo ra một VB mới ở dạng nói hoặc viết, hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức, trình bày bố cục, tổ chức, xây dựng VB đúng quy chuẩn, có ý nghĩa.
Trong quá trình tạo lập văn bản, người tạo lập cần xác định rõ mình sẽ đạt được mục đích nào. Sau khi tạo lập xong cần đối chiếu với những mục đích đó để đạt hiệu quả giao tiếp trong văn bản. Muốn đạt hiệu quả giao tiếp, người viết phải lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp với đối tượng giao tiếp. Trong khi tạo lập văn bản người viết, người nói phải trả lời được câu hỏi: Viết cho ai đọc? Nói cho ai nghe? Những câu trả lời là căn cứ để người viết, người nói lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và thậm chí điều chỉnh cả nội dung giao tiếp sao cho phù hợp với đối tượng tiếp nhận.
Bên cạnh đó, khi tạo lập văn bản cần chú ý cả hoàn cảnh giao tiếp. Khái niệm kỹ năng Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn” 36. 11 Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý làm chủ biên thì kỹ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận vào thực tế: Rèn luyện kỹ năng thẩm mĩ” [8] Đặng Thành Hưng cho rằng KN là một dạng chuyên biệt của năng lực, KN không phải là khả năng của cá nhân, mà là thuộc tính có thật ở cá nhân. KN là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học – tâm lí khác của cá nhân như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân.
để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chu n hay qui định [43]. Tác giả Nguyễn Bá Minh cho rằng, “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một loạt hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiến thức đã có đề giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở một cấp độ tiêu chuẩn xác định”. Nhu vậy, theo ông thì kỹ năng chưa hẳn là năng lực mà chỉ là khả năng, khả năng có thể bộc lộ và không được bộc lộ trong hoạt động thực tế [34] Theo nhóm tác giả cuốn Nâng cao kỹ năng làm bài văn nghị luận: “Kỹ năng được hiểu như là một khả năng của con người có thể hoàn thành các nhiệm vụ trong những điều kiện mới, dựa trên tri thức và kinh nghiệm đã được tích lũy và một loạt các kĩ xảo trong mối quan hệ mật thiết với nhau; kỹ năng và kĩ xảo luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau” 37. Kế thừa các quan niệm trên, tác giả luận văn cho rằng: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nhất định vào thực tế.
Kỹ năng là một quá trình gồm nhiều yếu tố, thao tác, luôn gắn với một hành động, hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động đó phù hợp với những mục tiêu và điều kiện thực tế. Khái niệm kỹ năng tạo lập văn bản Trong phạm vi của luận văn, kỹ năng tạo lập văn bản là khả năng tạo ra các bài viết một cách hiệu quả và có ý nghĩa. Kỹ năng này bao gồm khả năng 12 diễn đạt ý tưởng, thông tin, ý kiến, và cảm xúc của tác giả một cách rõ ràng, mạch lạc và hấp dẫn để truyền đạt thông điệp hoặc thuyết phục độc giả.Văn bản thuyết minh thuật lại một sự kiện 1. Khái niệm văn bản thuyết minh VBTM là kiểu VB được sử dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực của cuộc sống.
Từ lâu, văn thuyết minh đã được sử dụng dùng để cung cấp thông tin, tri thức về những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống với cách thức chủ yếu là trình bày và giới thiệu đặc điểm, cấu tạo, quy luật của đối tượng. Thuyết minh là thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống và nhiều ngành khoa học. Theo “Từ điển Hán Việt” của Phan Văn Các (1994): “Thuyết minh nghĩa là nói rõ, giải thích, giới thiệu, hay còn có nghĩa là hướng dẫn cách dùng” [10]. Vậy có thể hiểu thuyết minh là nói hoặc chú thích cho người ta hiểu rõ hơn về những sự vật, sự việc hoặc hình ảnh đã được đưa ra.
Tác giả Trần Thị Thành trong quan niệm: “Văn thuyết minh giúp chúng ta hiểu biết một cách đầy đủ, rõ ràng các phương diện của cuộc sống. Thuyết minh được dùng trong đời sống hằng ngày, trong khoa học, chính trị, Đó là loại văn bản mà ngành nghề nào cũng cần đến” [4, tr5]. Theo cuốn “Làm văn”, Đỗ Ngọc Thống chủ biên: “Văn thuyết minh là loại văn trình bày, giới thiệu, phổ biến hoặc giải thích nhằm làm rõ đặc điểm cơ bản của một đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội” hướng dẫn cho con người tìm hiểu và sử dụng chúng. Nói một cách khác, văn thuyết minh là loại văn trình bày, giới thiệu, phổ biến hoặc giải thích nhằm làm rõ đặc điểm cơ bản của một đối tượng, cung cấp tri thức về các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội.
[40] Sách giáo khoa lớp 8 đã định nghĩa: “Thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,… của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích”. 13 Như vậy, thuyết minh nhằm làm cho người đọc hiểu đúng về đối tượng chứ không cốt giúp người đọc hình dung, có những xúc cảm chủ quan về đối tượng như miêu tả, biểu cảm. Thuyết minh không xây dựng cốt truyện, diễn biến sự việc, như kể chuyện (tự sự). Thuyết minh trình bày nguyên lý, cách thức, quy luật của đối tượng chứ không dùng lập luận, suy luận, lý lẽ… để giải quyết vấn đề bằng luận điểm, luận cứ như văn nghị luận.Trong văn bản thuyết minh có dùng giải thích nhưng là giải thích bằng tri thức khoa học: cơ chế, quy luật của sự vật, cách thức sử dụng và bảo quản một cách khách quan… còn giải thích trong văn nghị luận là dùng dẫn chứng, lí lẽ để làm sáng tỏ vấn đề nhằm trình bày cách hiểu, quan điểm đánh giá đối tượng của người viết.
Đối tượng của văn thuyết minh là các hiện tượng xã hội như lịch sử, con người, chính trị, tôn giáo; là các hiện tượng tự nhiên như: địa lý, động vật, thực vật, hiện tượng thời tiết; là các vật dụng trong đời sống như: cách làm (nấu) một món ăn, gieo trồng; là văn học nghệ thuật. Có thể nói, đối tượng của văn thuyết minh vô cùng phong phú, mọi hiện tượng, sự vật trong đời sống đều có thể là đối tượng của thuyết minh, mọi ngành nghề đều cần đến thuyết minh. Ví dụ: - Giới thiệu một nhân vật lịch sử. - Giới thiệu một miền quê, một vùng địa lí.
- Giới thiệu một đặc sản, một món ăn. - Giới thiệu một vị thuốc. - Giới thiệu một loài hoa, loài chim, loài thú. - Thuyết minh Hội khỏe Phù Đổng - Thuyết minh về một sự kiện văn hóa hay lịch sử Có thể nói, văn thuyết minh đã thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực, trở thành loại VB thông dụng, quan trọng và luôn cần thiết trong cuộc sống.