Tổng quan nghiên cứu

Khu vực nông thôn Việt Nam hiện ghi nhận khoảng 2.790 làng nghề truyền thống và làng nghề mới, thu hút 1,42 triệu hộ gia đình cùng 1,35 triệu lao động chính tham gia sản xuất. Tại tỉnh Nam Định, hệ thống 94 làng nghề đang đóng vai trò trụ cột trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp thường niên từ 13 đến 15 triệu USD vào kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh. Đặc biệt, khu vực kinh tế dân doanh làng nghề từng chiếm tới 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp địa phương. Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở sản xuất vẫn duy trì công nghệ thủ công hoặc bán cơ khí lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên liệu và chưa có bất kỳ làng nghề nào đạt mức độ tự động hóa hoàn toàn. Tình trạng công nghệ chắp vá không chỉ làm giảm năng lực cạnh tranh sản phẩm mà còn phát tán lượng lớn chất thải độc hại ra môi trường tự nhiên.

Vấn đề then chốt đặt ra là các làng nghề đang gặp phải những rào cản đa chiều khiến tiến trình hiện đại hóa bị đình trệ. Đề tài tập trung nhận diện có hệ thống các rào cản nội tại và ngoại cảnh cản trở hoạt động đổi mới công nghệ tại các làng nghề thuộc tỉnh Nam Định, trọng tâm phân tích sâu trường hợp làng nghề cơ khí Xuân Tiến thuộc huyện Xuân Trường. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát giai đoạn 5 năm từ năm 2006 đến năm 2011. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giải phóng các điểm nghẽn công nghệ, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt trên 20% mỗi năm, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết đổi mới công nghệ của Joseph Schumpeter, nhấn mạnh quy luật phá hủy sáng tạo và 5 hình thái đổi mới căn bản: giới thiệu sản phẩm mới, áp dụng quy trình sản xuất mới, mở rộng thị trường mới, khai thác nguồn nguyên liệu mới và tái tổ chức cơ cấu sản xuất. Song song đó, đề tài tích hợp mô hình đánh giá công nghệ của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) kết hợp khung phân tích 4 thành phần công nghệ Atlas do Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) đề xuất, bao gồm: phần kỹ thuật phần cứng (Technoware), phần con người (Humanware), phần thông tin (Inforware) và phần tổ chức thể chế (Orgaware). Quá trình đổi mới chỉ đạt hiệu quả tối ưu khi cả 4 yếu tố này vận hành đồng bộ, thay vì chỉ tập trung cục bộ vào việc trang bị máy móc cơ khí.

Bên cạnh đó, luận văn làm rõ các khái niệm cốt lõi theo khung pháp lý Việt Nam: khái niệm công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, khái niệm chuyển giao kỹ thuật theo Luật Chuyển giao Công nghệ năm 2006, và định nghĩa làng nghề theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với tiêu chí tối thiểu 30% số hộ tham gia sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp cùng thời gian hoạt động ổn định từ 2 năm trở lên.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu kết hợp nguồn thông tin thứ cấp từ các báo cáo phát triển công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 của Sở Công thương, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nam Định cùng các công trình khảo sát của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA). Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (case study) với cỡ mẫu gồm 5 cơ sở sản xuất tiêu biểu đại diện cho các quy mô doanh nghiệp tại làng nghề cơ khí Xuân Tiến: Công ty Cổ phần Thanh Bằng, Công ty TNHH Nhật Việt, Doanh nghiệp tư nhân Tân Việt, Xí nghiệp cơ khí Quang Tuyến và Xưởng cơ khí Thế Sự.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm lựa chọn những cơ sở có thâm niên, dẫn đầu về sản lượng cơ khí nông nghiệp và trực tiếp trải qua các giai đoạn chuyển đổi công nghệ từ mô hình hợp tác xã sang doanh nghiệp tư nhân. Phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp chủ doanh nghiệp kết hợp khảo sát lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Xuân Tiến được lựa chọn vì tính chất định tính chuyên sâu, giúp bóc tách chính xác những rào cản tiềm ẩn về tâm lý tiểu nông, kinh nghiệm quản trị và nút thắt tiếp cận vốn mà các phương pháp khảo sát số lượng lớn không thể biểu đạt trọn vẹn. Khung thời gian thực hiện nghiên cứu và khảo sát thực địa được hoàn tất trong năm 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu tổng hợp đã chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi về thực trạng công nghệ tại địa phương:

Thứ nhất, rào cản nhận thức và trình độ quản trị kinh doanh mang nặng tư duy tiểu nông. Tại làng nghề Xuân Tiến, 100% chủ doanh nghiệp xuất thân từ người nông dân tự học nghề. Số liệu điều tra toàn ngành cho thấy tỷ lệ chủ hộ sản xuất chưa qua đào tạo kiến thức quản lý chuyên môn chiếm từ 51,5% đến 69,89%, trong khi ở khối chủ doanh nghiệp con số này vượt quá 43%. Trình độ học vấn của lực lượng quản lý bình quân chỉ đạt lớp 7 đến lớp 8 trên 12, thậm chí có khoảng 1,3% đến 1,6% người đứng đầu cơ sở chưa biết chữ. Do đó, các chủ xưởng chỉ chú trọng tối đa hóa lợi nhuận trước mắt, duy trì tư duy hỏng đâu sửa đó và sử dụng thiết bị cũ nhập khẩu từ Đài Loan hay Trung Quốc có niên đại từ 10 đến 20 năm.

Thứ hai, quy mô mặt bằng manh mún và sự phân bổ nguồn vốn thiếu cân đối. Toàn tỉnh Nam Định có 94 làng nghề phân bổ tại 10 huyện, thành phố, nhưng làng nghề quy mô nhỏ chiếm trên 60%, quy mô vừa chiếm khoảng 36%, trong khi quy mô lớn chỉ chiếm chưa đầy 4%. Tổng nguồn vốn sản xuất kinh doanh toàn tỉnh năm 2005 ước đạt 540 tỷ đồng nhưng tập trung lệch hẳn vào ngành cơ khí với 32,3% và dệt may với 14,2%, còn ngành chế biến lương thực thực phẩm chỉ chiếm 3,1%. Tại xã Xuân Tiến, dù 85% hộ dân tham gia sản xuất cơ khí và dịch vụ, tạo ra giá trị sản xuất 41 tỷ đồng năm 2010, phần lớn nhà xưởng vẫn nằm xen kẹt trong khu dân cư, gây ách tắc mặt bằng khi muốn lắp đặt dây chuyền tự động hóa.

Thứ ba, tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái đã chạm ngưỡng báo động đỏ. Do công nghệ nhiệt luyện, đúc, hàn và cắt kim loại thô sơ, nước thải sản xuất xả thẳng ra hệ thống kênh mương mà không qua xử lý. Số liệu quan trắc của cơ quan quản lý tài nguyên môi trường ghi nhận hàm lượng ion chì Pb2+ trong nước mặt tại làng nghề Xuân Tiến vượt gấp 2 lần tiêu chuẩn cho phép, hàm lượng ion kẽm Zn vượt ngưỡng quy chuẩn 0,6 mg/l, đe dọa trực tiếp đời sống của hơn 2.500 lao động tại chỗ.

Thứ tư, sự thiếu hụt nghiêm trọng các kênh thông tin khoa học kỹ thuật và chính sách hỗ trợ tín dụng. Khoảng 80,1% cơ sở sản xuất hoạt động dưới hình thức hộ cá thể, chỉ có 5,8% là hợp tác xã và 14,1% thuộc các loại hình doanh nghiệp khác. Các cơ sở hoàn toàn thiếu thông tin sáng chế chính thống, dẫn đến việc sao chép kỹ thuật lẫn nhau một cách tự phát, làm gia tăng nguy cơ tranh chấp mẫu mã và giảm giá bán trên thị trường.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các rào cản trên bắt nguồn từ sự đứt gãy giữa 4 thành phần công nghệ. Các cơ sở làng nghề thường ngộ nhận việc mua sắm máy móc cũ (Technoware) là đã hoàn thành đổi mới công nghệ, trong khi năng lực con người (Humanware), hệ thống dữ liệu kỹ thuật (Inforware) và mô hình quản trị doanh nghiệp (Orgaware) hoàn toàn bị bỏ quên. Thêm vào đó, mối quan hệ quản lý dòng họ, gia đình tạo ra cơ chế khép kín, giữ bí quyết nghề, cản trở sự lan tỏa tri thức công nghệ mới.

Khi so sánh với các bài học quốc tế như mô hình Xí nghiệp Hương Trấn tại Trung Quốc (duy trì tốc độ tăng trưởng 20% đến 30%/năm để giải quyết việc làm cho 12 triệu lao động) hay phong trào Mỗi làng một sản phẩm của Thái Lan (đạt doanh thu hơn 30,8 tỷ Baht năm 2003 nhờ chuẩn hóa kỹ thuật), có thể thấy các làng nghề tại Nam Định đang thiếu vắng sự bảo trợ thể chế tập trung. Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua biểu đồ cơ cấu nguồn vốn làng nghề và bảng ma trận đánh giá 6 nhóm rào cản giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng lượng hóa mức độ tổn thất kinh tế do công nghệ lạc hậu gây ra.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ triệt để các nút thắt công nghệ, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và chuẩn hóa năng lực quản trị doanh nghiệp làng nghề. Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức các chương trình đào tạo quản trị điều hành, chuyển giao tri thức sở hữu trí tuệ cho các chủ cơ sở. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ chủ doanh nghiệp và chủ hộ được đào tạo bài bản từ mức dưới 45% lên tối thiểu 80% trong khung thời gian 3 năm từ 2012 đến 2015.

Thứ hai, thiết lập cơ chế tài chính đặc thù và quỹ bảo lãnh tín dụng đổi mới kỹ thuật. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Nam Định chủ trì chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai gói tín dụng trung và dài hạn với mức lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thị trường từ 2% đến 3% mỗi năm. Giải pháp này nhằm hỗ trợ 100% doanh nghiệp cơ khí đủ điều kiện thế chấp bằng chính dây chuyền máy móc mới mua sắm, thực hiện liên tục trong giai đoạn 5 năm.

Thứ ba, thành lập Trung tâm tư vấn thông tin và chuyển giao công nghệ cấp tỉnh. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nam Định đóng vai trò đầu mối xây dựng cổng thông tin dữ liệu giải pháp công nghệ, thực hiện thẩm định và kiểm tra định kỳ chỉ tiêu kỹ thuật cho 100% các dòng máy nông nghiệp như máy tuốt lúa, máy trộn bê tông, hoàn thành triển khai trong vòng 18 tháng.

Thứ tư, quy hoạch cụm công nghiệp tập trung gắn liền với hạ tầng xử lý nước thải chuẩn hóa. Ủy ban nhân dân huyện Xuân Trường và các huyện lân cận khẩn trương bố trí quỹ đất di dời 100% cơ sở cơ khí đúc, hàn khỏi khu dân cư vào Cụm công nghiệp Xuân Tiến, lắp đặt trạm xử lý chất thải tập trung nhằm giảm nồng độ chì và kẽm về dưới ngưỡng quy chuẩn quốc gia trong thời hạn 3 đến 4 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn): Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để ban hành các quy định khuyến công, tiêu chuẩn hóa môi trường và chính sách phân bổ ngân sách khoa học kỹ thuật phù hợp với đặc thù kinh tế nông thôn.

Nhóm các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Kinh tế phát triển: Tài liệu là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu trường hợp điển hình, ứng dụng mô hình các thành phần công nghệ và công cụ nhận diện rào cản thể chế trong bối cảnh địa phương.

Nhóm chủ doanh nghiệp, chủ xưởng sản xuất tại các làng nghề cơ khí, tiểu thủ công nghiệp: Cung cấp góc nhìn tự đánh giá toàn diện về năng lực nội tại, giúp các chủ cơ sở chuyển đổi tư duy quản lý từ kinh nghiệm truyền khẩu sang phương thức quản trị bài bản, nhận diện rủi ro máy móc cũ và xây dựng lộ trình đầu tư công nghệ theo từng giai đoạn.

Nhóm các tổ chức tài chính, hiệp hội ngành nghề và quỹ hỗ trợ phát triển: Sử dụng dữ liệu thực tế về doanh thu, nhu cầu vốn và cơ cấu lao động để thiết kế các gói tài trợ kỹ thuật, chương trình tín dụng xanh và dự án chuyển giao công nghệ sạch cho khu vực nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Rào cản lớn nhất đối với việc đổi mới công nghệ tại làng nghề cơ khí Xuân Tiến là gì? Rào cản lớn nhất nằm ở nhận thức và trình độ quản lý mang tính tiểu nông của các chủ cơ sở. Khảo sát cho thấy có từ 51,5% đến 69,89% chủ hộ chưa qua đào tạo quản trị, khiến họ duy trì thói quen tận dụng máy móc cũ từ 10 đến 20 năm, ngần ngại đầu tư dài hạn và thiếu khả năng tiếp thu các công nghệ tự động hóa phức tạp.

Thực trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề Xuân Tiến nghiêm trọng ở mức độ nào? Ô nhiễm môi trường tại đây đã ở mức đáng báo động. Kết quả phân tích nguồn nước mặt cho thấy hàm lượng chì Pb2+ vượt gấp 2 lần quy chuẩn cho phép và hàm lượng kẽm Zn vượt ngưỡng 0,6 mg/l do nước thải axit, dung môi tẩy rửa kim loại và bụi sơn xả thẳng trực tiếp ra hệ thống mương làng mà không qua bất kỳ khâu xử lý nào.

Tại sao các doanh nghiệp làng nghề gặp khó khăn khi vay vốn trung và dài hạn từ ngân hàng? Hơn 80% cơ sở sản xuất tại làng nghề là hộ cá thể, nhà xưởng nằm xen kẽ trong đất thổ cư gia đình nên thiếu giấy tờ pháp lý hợp lệ để thế chấp. Thêm vào đó, việc thiếu hệ thống sổ sách kế toán minh bạch khiến các ngân hàng thương mại e ngại rủi ro nợ xấu, hạn chế cấp các khoản vay trung hạn trên 3 năm.

Làng nghề cơ khí Xuân Tiến từng đạt được bước tiến công nghệ đột phá nào trong quá khứ? Vào thập niên 1990, các thợ cơ khí Xuân Tiến đã tự mày mò nghiên cứu, cải tiến thành công dòng máy đập lúa liên hoàn với giá thành thấp hơn nhiều so với máy nhập từ miền Nam. Sản phẩm nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường toàn miền Bắc, xuất khẩu sang Lào và trở thành thương hiệu biểu trưng cho năng lực chế tạo của làng nghề.

Mô hình 4 thành phần công nghệ Atlas giải thích sự thất bại trong đổi mới thiết bị như thế nào? Mô hình khẳng định công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đồng bộ 4 yếu tố: kỹ thuật, con người, thông tin và tổ chức. Các làng nghề Nam Định chỉ chú trọng mua máy móc phần cứng nhưng thiếu nhân lực vận hành tay nghề cao, thiếu tài liệu thiết kế chuẩn xác và giữ mô hình quản lý gia đình, làm triệt tiêu hiệu suất của thiết bị mới.

Kết luận

Tổng kết những đóng góp khoa học và thực tiễn trọng tâm của luận văn:

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về công nghệ, đổi mới công nghệ và đặc thù tổ chức sản xuất tại các làng nghề nông thôn Việt Nam.
  • Nhận diện chính xác 6 nhóm rào cản cốt lõi kìm hãm đổi mới công nghệ tại Nam Định: nhận thức, quy mô nhân lực, vốn đầu tư, thông tin kỹ thuật, chính sách hỗ trợ và công tác quản lý nhà nước.
  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm chân thực về làng nghề cơ khí Xuân Tiến, chỉ rõ các nghịch lý giữa tăng trưởng doanh thu với ô nhiễm môi trường và sự lạc hậu về mặt bằng sản xuất.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao, phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý từ cấp tỉnh, huyện đến cơ sở sản xuất trong lộ trình 3 đến 5 năm tới.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp nối về đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật sau khi di dời các cơ sở sản xuất vào cụm công nghiệp tập trung.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, các cấp chính quyền tỉnh Nam Định cùng cộng đồng doanh nghiệp làng nghề cần khẩn trương bắt tay hành động, triển khai đồng bộ các chính sách tín dụng và đào tạo nguồn nhân lực, đưa khoa học công nghệ thực sự trở thành đòn bẩy cho sự hưng thịnh của kinh tế nông thôn.