Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm từ thực tiễn thành phố Hà Nội" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hồng Hà thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đinh Thị Mai, thuộc ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số 9.04.

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận giải dựa trên ba căn cứ chủ yếu:

  • Thứ nhất, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế, tình hình tội phạm có diễn biến phức tạp; nhóm tội phạm, các trường hợp phạm nhiều tội và phạm tội từ 02 lần trở lên có dấu hiệu gia tăng đáng kể hàng năm. Về mặt lý luận và áp dụng thực tiễn, vẫn tồn tại nhiều nhận thức, quan điểm khác nhau về yếu tố định tội danh cũng như căn cứ quyết định hình phạt đối với trường hợp nhiều tội phạm.
  • Thứ hai, hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam trải qua các giai đoạn từ Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985, BLHS năm 1999 đến BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã từng bước hoàn thiện chính sách hình sự và cải cách tư pháp. Dẫu vậy, các quy định thực định điều chỉnh việc định tội danh và căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm vẫn bộc lộ những điểm vướng mắc, chưa đồng bộ, cần được làm rõ để phục vụ việc hoàn thiện lập pháp.
  • Thứ ba, thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân trong việc quyết định hình phạt đối với trường hợp nhiều tội phạm còn nhiều sai sót. Cụ thể gồm việc định tội danh sai hoặc bỏ lọt tội phạm, dẫn đến việc quyết định hình phạt không tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội (quá nặng hoặc quá nhẹ), thậm chí dẫn đến oan sai. Tỷ lệ các vụ án bị áp dụng hình phạt không chính xác trong trường hợp nhiều tội phạm chiếm tỷ lệ cao hơn đáng kể so với các vụ án đơn tội phạm thông thường, gây khó khăn cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm theo luật hình sự Việt Nam; trên cơ sở khảo sát thực trạng xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhằm chỉ ra các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất quan điểm cùng hệ thống giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng đắn.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Một là: Phân tích tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài, xác định các nội dung lý luận kế thừa và những vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ.
  • Hai là: Làm rõ những vấn đề chung về quyết định hình phạt, nhiều tội phạm và quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm.
  • Ba là: Đánh giá khái quát về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm; phân tích nội dung các quy định và đánh giá thực tiễn áp dụng của luật hình sự hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm, chỉ ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm:

  • Câu hỏi thứ nhất: Quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm là gì, có đặc điểm gì khác với quyết định hình phạt đối với vụ án đơn tội phạm?
  • Câu hỏi thứ hai: Quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội đã được đảm bảo chưa? Có ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân gì?
  • Câu hỏi thứ ba: Cần có giải pháp nào để Tòa án quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội đạt hiệu quả?

Các giả thuyết nghiên cứu tương ứng được xác định:

  • Giả thiết thứ nhất: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trong những năm vừa qua đã thụ lý nhiều vụ án nhiều tội phạm phức tạp nên việc quyết định hình phạt có nhiều lúng túng do thiếu nhận thức về lý luận và thực tiễn, đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu để tăng cường hiệu quả quyết định hình phạt đối với vụ án có nhiều tội phạm.
  • Giả thiết thứ hai: Pháp luật hình sự và tố tụng hình sự trong những năm qua đã được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, song quá trình quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm còn nhiều bất cập, thiếu căn cứ pháp lý, đặt ra vấn đề phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật.
  • Giả thiết thứ ba: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có nhiều biện pháp để tăng cường xét xử đối với vụ án nhiều tội phạm song hiệu quả chưa cao, đặt ra vấn đề phải tiếp tục tìm các giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đối với vụ án nhiều tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam, bao gồm vấn đề lý luận chung, hệ thống quy phạm pháp luật và chế định cụ thể liên quan, cùng thực trạng hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội (hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu các vụ việc và số liệu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan theo ba nhóm chủ đề chính:

Nhóm nghiên cứu về nhiều tội phạm:

  • Tại Việt Nam, các bài viết tạp chí tiêu biểu gồm: Mai Bộ (1995) về "phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội"; Võ Khánh Vinh và Lê Văn Đệ (1999) nghiên cứu về tổng hợp thực tế đối với phạm nhiều tội; Lê Cảm (2001) về mô hình lý luận của chế định đa (nhiều) tội phạm; Dương Tuyết Miên (2000) về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội; Lê Văn Đệ (2004) về các hình thức biểu hiện của chế định nhiều tội phạm.
  • Các sách chuyên khảo, giáo trình gồm: Nguyễn Ngọc Hòa (2008) với "Tội phạm và cấu thành tội phạm"; Lê Văn Đệ (2004, 2010) với các chuyên khảo về chế định nhiều tội phạm, định tội danh và quyết định hình phạt; Trịnh Tiến Việt (2013) với "Tội phạm và trách nhiệm hình sự"; Đinh Thế Hưng và Trần Văn Biên trong bình luận khoa học BLTTHS 2015; Nguyễn Ngọc Anh (2008); Hoàng Mạnh Hùng; Võ Khánh Vinh (2006, 2021). Ngoài ra còn có luận án tiến sĩ của Cao Thị Oanh (2008) về nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và Võ Khánh Linh (2017) về xã hội học hình phạt.

Nhóm nghiên cứu về quyết định hình phạt:

  • Các luận án tiến sĩ trong nước tiêu biểu gồm: Dương Tuyết Miên (2003) với luận án đầu tiên nghiên cứu hệ thống về quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam; Nguyễn Sơn (2003) nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống các hình phạt chính.
  • Các bài viết tạp chí của Võ Khánh Vinh và Nguyễn Văn Hoàn (1994), Nguyễn Mạnh Kháng (2002), Nguyễn Minh Khuê (2014, 2015) phân tích khía cạnh chi phí xã hội, mối quan hệ giữa tự do và hình phạt, cũng như hiệu quả của các hình phạt chính không tước tự do.
  • Các nghiên cứu quốc tế: Báo cáo so sánh về hình phạt thay thế và quyết định hình phạt (Sentencing and alternative punishment) tại 7 quốc gia (Đức, Nhật Bản, Sri Lanka, Jamaica, Nepal, Palestine, Guatemala); tác phẩm của Russil Durrant (2013) về tâm lý học hình sự; tài liệu Hội nghị quốc tế năm 2012 do UNICRI và Hội đồng Châu Âu tổ chức với các tham luận của Ugljesa Zvekic, Robert Harris, Joseph K. Gitau, Wolfgang Rau; khảo cứu pháp luật hình sự các nước như Nga, Bulgaria, CH Séc, Hungary, Thụy Điển, Đức, Slovenia, New Zealand, Thổ Nhĩ Kỳ, Australia, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản; báo cáo tọa đàm 5 nước (Nhật Bản, Indonesia, Ấn Độ, Maldives, Nam Phi) về hình phạt tại cộng đồng; các công trình lý luận định tội của Kudrjavtsev (1972), Kurinov B.A. (1965, 1984), sách định tội danh tội giết người tại Moskva (1996); tài liệu về chính sách hình sự Canada (2008); nghiên cứu xã hội học tư pháp hình sự của Mike Hough và Julian Roberts (2002, 2005).

Nhóm nghiên cứu trực tiếp về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm:

  • Nghiên cứu trong nước: GS. Võ Khánh Vinh (2013) trong Giáo trình lý luận chung về định tội danh dành riêng Chương IX để phân tích định tội danh trong trường hợp nhiều tội phạm; GS. Đào Trí Úc (chủ biên, 1994); Võ Khánh Vinh (1994) về nguyên tắc công bằng; Lê Văn Đệ (2003) với luận án tiến sĩ về chế định nhiều tội phạm; Nguyễn Đình Chiến (2003); Đặng Phú Lâm; Lê Văn Cảm (2005); Đề tài cấp Bộ của Tòa án nhân dân tối cao do Đặng Quang Phương chủ nhiệm (1996); Nguyễn Văn Quảng (2011); Đinh Văn Quế (2010); G. Michel với nghiên cứu về áp dụng luật hình thời kỳ Pháp thuộc.
  • Nghiên cứu quốc tế: V. Kudriavtsev về phòng ngừa tội phạm; Kỷ yếu hội thảo quốc tế năm 2015 do Đại học Oxford, Cambridge và Roskilde tổ chức (do Julian Roberts và Lyndon Harris công bố năm 2017) và tác phẩm của Jan de Keijser, Julian V. Roberts, Jesper Ryberg (2017) với tiêu đề "Sentencing for Multiple Crimes". Tài liệu này chỉ ra hai xu hướng quyết định hình phạt đối với nhiều tội phạm trên thế giới: (1) Phương pháp cộng dồn thuần túy (tổng mức án bằng tổng số các hình phạt cá nhân, song dễ dẫn đến sự bất hợp lý và vi phạm tính tương xứng); (2) Phương pháp "chiết khấu" hay quy định thời hạn thi hành đồng thời để tránh tình trạng hình phạt cộng dồn quá mức nghiêm khắc đối với các tội ít nghiêm trọng.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các tài liệu trước đây đã tiếp cận từng khía cạnh của tội phạm hoặc hình phạt, song phần lớn mới nhìn nhận quyết định hình phạt như một bản án/phán quyết thuần túy của Tòa án mà chưa tiếp cận toàn diện dưới góc độ là một giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự. Mặt khác, các tranh luận học thuật về khái niệm nhiều tội phạm (theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp), ranh giới giữa phạm tội từ 02 lần trở lên với phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, hay việc áp dụng hình phạt đối với tội phạm liên tục vẫn chưa có sự thống nhất. Đặc biệt, chưa có công trình nào đánh giá thực chứng và toàn diện thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2012–2021. Luận án đặt mục tiêu lấp đầy các khoảng trống này cả về khung lý thuyết và thực tiễn xét xử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; bám sát các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người và định hướng chính sách hình sự xử lý trường hợp nhiều tội phạm.

Về mặt lý thuyết và khung phân tích, tác giả kế thừa và phát triển:

  • Khung lý luận về tội phạm và cấu thành tội phạm của GS. Nguyễn Ngọc Hòa, GS.TSKH. Lê Cảm và TS. Lê Văn Đệ.
  • Khung lý luận về áp dụng pháp luật hình sự và quyết định hình phạt của GS.TS. Võ Khánh Vinh, trong đó xác định áp dụng hình phạt là một quá trình xã hội sâu sắc, gắn liền với việc cá thể hóa hình phạt dựa trên tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và đặc điểm nhân thân người phạm tội.
  • Các khái niệm và quy chuẩn của luật hình sự thực định Việt Nam, đối chiếu với các nguyên tắc pháp lý quốc tế (chẳng hạn như Quy tắc Tokyo của Liên Hợp Quốc về các biện pháp không giam giữ).

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm:

  • Phương pháp duy vật biện chứng: Tiếp cận dưới góc độ khoa học luật hình sự và tội phạm học nhằm phân tích, luận giải bản chất xã hội - pháp lý của hiện tượng nhiều tội phạm.
  • Phương pháp phân tích quy phạm và mô tả luật: Mổ xẻ các điều luật, quy định thực định của BLHS qua các thời kỳ (1985, 1999, 2015 sửa đổi 2017) và các văn bản hướng dẫn áp dụng.
  • Phương pháp diễn giải và quy nạp: Phân tích các khái niệm pháp lý, từ đó tổng hợp, rút ra các kết luận lý luận và căn cứ thực tiễn.
  • Phương pháp lịch sử: Xem xét quá trình phát triển của các quy phạm điều chỉnh việc quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm theo tiến trình lập pháp hình sự Việt Nam.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: So sánh, đối chiếu quy định về tổng hợp hình phạt, quyết định hình phạt đối với người phạm nhiều tội giữa Việt Nam và một số quốc gia (Nga, Nhật Bản, các nước Châu Âu...).
  • Phương pháp thống kê và tổng hợp số liệu thực tiễn: Khảo sát, thu thập bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm, số liệu thống kê ngẫu nhiên và các báo cáo tổng kết xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội trong giai đoạn 10 năm (2012–2021).
  • Phương pháp phân tích tình huống (case study): Đánh giá các vụ án hình sự cụ thể có sai sót trong việc định tội danh, áp dụng tình tiết định khung hoặc tổng hợp hình phạt.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của Việt Nam; các nghị quyết, công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (như Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP, Công văn số 233/TANDTC-PC, Công văn số 64/TANDTC-PC); các tài liệu, báo cáo tổng kết công tác xét xử của TAND thành phố Hà Nội giai đoạn 2012–2021; cùng các giáo trình, kỷ yếu hội thảo, sách chuyên khảo trong nước và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có bố cục gồm phần Mở đầu, 4 chương nội dung chính, phần Kết luận, Danh mục công trình khoa học đã công bố của tác giả và Danh mục tài liệu tham khảo.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 tập trung điểm cứu toàn diện các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước. Tác giả phân loại lịch sử nghiên cứu thành ba tuyến nội dung: các công trình về nhiều tội phạm, các công trình về quyết định hình phạt nói chung, và các nghiên cứu chuyên sâu về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm.

Trên cơ sở đánh giá các tài liệu, tác giả khẳng định các nghiên cứu trước đây đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc làm rõ các khái niệm về tội phạm, cấu thành tội phạm và hình phạt đơn nhất. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu tiếp cận quyết định hình phạt dưới góc độ một phán quyết cá biệt của Tòa án mà chưa nghiên cứu hoàn chỉnh quyết định hình phạt như một giai đoạn của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự mang tính quy trình chặt chẽ. Đa phần các nghiên cứu mới mang tính thực chứng, chưa phân tích thấu đáo các khía cạnh triết học và xã hội học của hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Bên cạnh đó, việc tổng kết thực tiễn quyết định hình phạt đối với trường hợp nhiều tội phạm tại một địa bàn trọng điểm như thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2012–2021 chưa từng được thực hiện ở cấp độ luận án tiến sĩ. Chương 1 xác lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và 3 giả thuyết khoa học làm định hướng giải quyết cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật của một số nước về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm

Chương này xây dựng hệ thống cơ sở lý luận của đề tài, tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, bản chất và các hình thức của nhiều tội phạm, đồng thời khảo cứu pháp luật quốc tế:

  • Về định nghĩa: Tác giả đưa ra định nghĩa: "Nhiều tội phạm là trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà mỗi hành vi cấu thành một tội phạm độc lập hoặc chỉ thực hiện một hành vi và hành vi đó cấu thành nhiều tội phạm khác nhau."
  • Đặc điểm của nhiều tội phạm gồm: (1) Hành vi xâm phạm vào nhiều khách thể khác nhau được BLHS bảo vệ; (2) Các hành vi có thể diễn ra cùng thời điểm hoặc các thời điểm khác nhau nhưng đều còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; (3) Cấu thành nhiều tội phạm độc lập hoặc phương thức thực hiện hành vi này lại cấu thành một tội phạm khác; (4) Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với trường hợp phạm tội đơn lẻ; (5) Về mặt quyết định hình phạt, đòi hỏi quy trình Tòa án phải xem xét, tuyên hình phạt đối với từng tội phạm cụ thể rồi mới tiến hành tổng hợp hình phạt theo quy tắc luật định (Điều 55, Điều 56 BLHS năm 2015).
  • Bốn hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm được xác định gồm: (1) Phạm nhiều tội; (2) Phạm tội nhiều lần (trong BLHS năm 2015 quy định là "phạm tội từ 02 lần trở lên"); (3) Tái phạm, tái phạm nguy hiểm (Điều 53 BLHS); (4) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

Đặc biệt, tác giả tiến hành phân biệt chi tiết giữa trường hợp "phạm tội từ 02 lần trở lên" và "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" qua 4 tiêu chí pháp lý:

Tiêu chí phân biệt Phạm tội từ 02 lần trở lên Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Mục đích, động cơ Không quy định bắt buộc về mục đích, động cơ kiếm sống trong các lần phạm tội. Người phạm tội lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy khoản thu được làm nguồn sống chính (theo các văn bản hướng dẫn hiện hành).
Hình thức lỗi Có thể thực hiện với lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Chỉ được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.
Số lần thực hiện hành vi Thực hiện hành vi phạm tội từ 02 lần trở lên về cùng một tội danh, chưa bị xử lý và đưa ra xét xử cùng lần. Thực hiện hành vi phạm tội từ 05 lần trở lên về cùng một tội hoặc các tội có cùng khách thể loại; không phụ thuộc việc đã bị xét xử hay chưa.
Vị trí pháp lý trong BLHS Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 52) hoặc tình tiết định khung tăng nặng tại các điều luật cụ thể. Là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 52) hoặc tình tiết định khung tăng nặng ở một số tội phạm cụ thể (ví dụ Điều 365).

Tác giả bày tỏ quan điểm không đồng tình với việc bắt buộc phải chứng minh dấu hiệu "lấy việc phạm tội làm nghề sinh sống" hoặc "lấy kết quả phạm tội làm nguồn sống chính" trong tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, bởi trong thực tiễn nhiều người có công việc và thu nhập ổn định nhưng vẫn liên tục thực hiện tội phạm để gia tăng tài sản bất chính. Nếu giữ tiêu chí này sẽ gây bế tắc trong thực tiễn xét xử, khiến Tòa án có xu hướng chỉ xử lý theo tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên.

Về kinh nghiệm quốc tế, chương này điểm lại quy định của Nhật Bản (Điều 45 BLHS Nhật Bản), Nga, các nước Châu Âu và chỉ ra hai mô hình quyết định hình phạt: mô hình cộng dồn cơ học và mô hình chiết khấu/hợp nhất hình phạt nhằm bảo đảm nguyên tắc công bằng và tính tương xứng.

Chương 3: Pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội

Chương 3 phân tích thực trạng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2012–2021:

  • Cơ sở pháp lý thực định: Trọng tâm là Điều 55 (Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội), Điều 56 (Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án), Điều 52 (Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: phạm tội từ 02 lần trở lên, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp) và Điều 53 (Tái phạm, tái phạm nguy hiểm) của BLHS năm 2015.
  • Thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Nội: Phân tích số liệu các vụ án nhiều tội phạm được thụ lý và giải quyết; làm rõ các nhóm tội danh phức tạp thường gặp trong thực tế như các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe kết hợp tội xâm phạm sở hữu (điển hình là hành vi giết người để cướp tài sản theo Điều 123 và Điều 168 BLHS); nhóm tội phạm về ma túy; nhóm tội kinh tế, chức vụ kết hợp hành vi rửa tiền.
  • Những tồn tại, hạn chế qua thực tiễn xét xử:
    • Việc định tội danh còn nhầm lẫn giữa một hành vi phạm nhiều tội độc lập với hành vi liên tục, hoặc giữa hành vi là phương tiện với hành vi là mục đích cấu thành tội khác.
    • Áp dụng sai các tình tiết định khung và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đặc biệt là nhầm lẫn giữa tình tiết "phạm tội từ 02 lần trở lên" với "tái phạm" hoặc "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp".
    • Sai sót trong quy trình tổng hợp hình phạt theo Điều 55 và Điều 56 BLHS, nhất là khi tổng hợp giữa hình phạt tù có thời hạn với các hình phạt không tước tự do (cải tạo không giam giữ, phạt tiền) hoặc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có hiệu lực pháp luật khác nhau.
  • Nguyên nhân của hạn chế: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản giải thích, hướng dẫn của TANDTC còn thiếu, có nội dung chưa rõ hoặc hết hiệu lực nhưng chưa được thay thế kịp thời; nhận thức lý luận của một bộ phận Thẩm phán, Kiểm sát viên chưa đồng đều; áp lực số lượng án tại địa bàn Thủ đô lớn, dẫn đến việc thu thập chứng cứ và cá thể hóa hình phạt đôi lúc chưa bảo đảm tính chính xác.

Chương 4: Các yêu cầu và các giải pháp đảm bảo quyết định hình phạt đúng trong trường hợp nhiều tội phạm

Chương 4 xác định các yêu cầu nền tảng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt:

  • Hệ thống các yêu cầu: Bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm nguyên tắc công bằng và cá thể hóa trách nhiệm hình sự; quán triệt chính sách nhân đạo của Nhà nước; đáp ứng các định hướng cải cách tư pháp và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn đô thị phức tạp.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Sửa đổi, bổ sung các điều luật trong Phần chung BLHS nhằm làm rõ khái niệm pháp lý của chế định nhiều tội phạm và các hình thức biểu hiện.
    • Sửa đổi tiêu chí định lượng của tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp", loại bỏ tính phụ thuộc tuyệt đối vào dấu hiệu "lấy việc phạm tội làm nghề sinh sống và nguồn sống chính".
    • Hoàn thiện kỹ thuật lập pháp tại Điều 55 và Điều 56 BLHS để quy định rõ ràng, cụ thể hơn về phương thức tổng hợp các loại hình phạt khác nhau khi một người phạm nhiều tội hoặc bị kết án bởi nhiều bản án.
  • Nhóm giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật:
    • TANDTC cần ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm, thay thế các hướng dẫn cũ không còn hiệu lực.
    • Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án tại TAND hai cấp thành phố Hà Nội.
    • Đẩy mạnh công tác thanh tra, giám đốc kiểm tra án và tổng kết thực tiễn xét xử định kỳ để kịp thời phát hiện, rút kinh nghiệm các sai sót trong việc định tội danh và tổng hợp hình phạt.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định bốn đóng góp mới về mặt khoa học:

  • Thứ nhất: Là công trình khoa học chuyên khảo ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và có hệ thống về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm dưới góc độ là một giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự.
  • Thứ hai: Phân tích, xây dựng và thiết lập khung lý luận cơ bản về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm, bao gồm khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa, nguyên tắc áp dụng và các yếu tố tác động đến chất lượng quyết định hình phạt.
  • Thứ ba: Đánh giá thực chứng thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm qua công tác xét xử tại hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội; chỉ ra các bất cập, vướng mắc trong hệ thống quy định pháp luật và những sai sót thực tế của hoạt động xét xử.
  • Thứ tư: Đề xuất hệ thống các giải pháp khoa học có tính khả thi nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và các biện pháp nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm tính đúng đắn khi quyết định hình phạt đối với trường hợp nhiều tội phạm.

Hệ thống kiến nghị, giải pháp của luận án tập trung vào việc kiến nghị Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung các điều khoản tương ứng của BLHS (về chế định nhiều tội phạm, các điều 52, 53, 55, 56); kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn nghiệp vụ thay thế Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP; đồng thời đưa ra các giải pháp tổ chức thực thi tại hệ thống Tòa án thành phố Hà Nội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát thực tiễn của đề tài giới hạn tại địa bàn thành phố Hà Nội trong mốc thời gian từ năm 2012 đến năm 2021. Mặc dù Hà Nội là trung tâm chính trị - xã hội lớn với cơ cấu tội phạm đa dạng, song số liệu và thực tiễn xét xử tại đây chưa đại diện hoàn toàn cho tình hình tội phạm và thực tiễn quyết định hình phạt của các địa phương khác (như khu vực miền núi, biên giới hay các trung tâm kinh tế khác).
  • Luận án chủ yếu tiếp cận dưới góc độ khoa học luật hình sự và tố tụng hình sự thực định; việc tiếp cận liên ngành dưới góc độ triết học hình phạt và xã hội học tư pháp còn ở mức độ khái quát.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn trên quy mô toàn quốc hoặc khảo sát so sánh thực tiễn quyết định hình phạt giữa các thành phố trực thuộc trung ương.
  • Triển khai các nghiên cứu chuyên sâu mang tính đa ngành và liên ngành, kết hợp tội phạm học, tâm lý học tư pháp và xã hội học pháp luật để đánh giá hiệu quả tác động của từng loại hình phạt khi tổng hợp đối với người phạm nhiều tội trong giai đoạn chấp hành án.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ rệt cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập các học phần Luật hình sự Việt Nam (Phần chung và Phần các tội phạm), Định tội danh và Quyết định hình phạt, Luật tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Phần khung lý thuyết ở Chương 2 và phần tổng quan tài liệu ở Chương 1 là nguồn dẫn liệu học thuật hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng: Giúp Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân nhận diện chính xác các hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm; hạn chế các sai sót trong việc phân biệt giữa phạm tội từ 02 lần trở lên với phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, bảo đảm việc lượng hình và tổng hợp hình phạt chính xác theo Điều 55, Điều 56 BLHS.
  • Đối với cơ quan xây dựng chính sách và lập pháp: Các kiến nghị sửa đổi điều luật và đề xuất ban hành Nghị quyết hướng dẫn của luận án cung cấp luận cứ thực tiễn cho Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan thẩm tra lập pháp của Quốc hội trong quá trình hoàn thiện chính sách hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án định nghĩa "nhiều tội phạm" như thế nào và xác định gồm những hình thức biểu hiện nào?
Theo luận án, nhiều tội phạm là trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà mỗi hành vi cấu thành một tội phạm độc lập hoặc chỉ thực hiện một hành vi và hành vi đó cấu thành nhiều tội phạm khác nhau. Tác giả xác định 4 hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm gồm: (1) Phạm nhiều tội; (2) Phạm tội nhiều lần (trong BLHS năm 2015 là "phạm tội từ 02 lần trở lên"); (3) Tái phạm, tái phạm nguy hiểm; (4) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.

2. Tác giả luận án có quan điểm gì về dấu hiệu "lấy việc phạm tội làm nghề sinh sống" trong tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp?
Tác giả không đồng tình với quy định tại các văn bản hướng dẫn hiện nay bắt buộc phải có dấu hiệu "người phạm tội lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính". Tác giả lập luận rằng trên thực tế nhiều đối tượng có nghề nghiệp và nguồn thu nhập ổn định nhưng vẫn liên tục thực hiện tội phạm để gia tăng tài sản bất chính. Do đó, việc duy trì dấu hiệu này gây khó khăn trong chứng minh thực tiễn và khiến Tòa án có xu hướng chuyển sang áp dụng tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên.

3. Kinh nghiệm quốc tế về quyết định hình phạt đối với nhiều tội phạm được luận án tổng kết theo những xu hướng nào?
Luận án dẫn chứng nghiên cứu quốc tế chỉ ra hai cách tiếp cận chính: (1) Cách tiếp cận cộng dồn thuần túy (tính riêng từng tội và cộng dồn các mức án), cách này dễ dẫn đến mức án tổng hợp quá nặng đối với chuỗi tội nhẹ, vi phạm nguyên tắc tương xứng; (2) Cách tiếp cận "chiết khấu" hoặc quy định thời hạn chấp hành đồng thời (được nhiều quốc gia áp dụng), nhằm bảo đảm tính cân bằng và phân hóa trách nhiệm hình sự.

4. Tại sao việc quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm tại TAND thành phố Hà Nội giai đoạn 2012–2021 lại có tỷ lệ sai sót cao hơn trường hợp thông thường?
Theo luận án, nguyên nhân là do tính chất của các vụ án nhiều tội phạm rất phức tạp về hành vi, động cơ và khách thể bị xâm phạm; quy định pháp luật và văn bản hướng dẫn còn thiếu đồng bộ hoặc đã hết hiệu lực; việc định tội danh giữa hành vi độc lập và chuỗi hành vi liên tục dễ nhầm lẫn; năng lực áp dụng pháp luật của một số Thẩm phán chưa đồng đều trong việc áp dụng các quy tắc tổng hợp hình phạt theo Điều 55 và Điều 56 BLHS năm 2015.

5. Luận án đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự nào liên quan đến Điều 55 và Điều 56 BLHS năm 2015?
Luận án đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS để xác lập rõ ràng khái niệm, nội dung của chế định nhiều tội phạm trong Phần chung; chuẩn hóa lại các tiêu chí của tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; hoàn thiện kỹ thuật lập pháp tại Điều 55 và Điều 56 nhằm quy định chi tiết nguyên tắc tổng hợp giữa hình phạt tù có thời hạn với các hình phạt không tước tự do, và quy tắc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án nhằm tránh áp dụng tùy nghi trong thực tiễn xét xử.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hà là công trình nghiên cứu chuyên sâu về quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm dưới góc độ một giai đoạn của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự. Thông qua việc hệ thống hóa lý luận, phân tích các chuẩn mực pháp lý quốc tế và khảo sát thực chứng tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2012–2021, tác giả đã chỉ rõ các vướng mắc, sai sót trong thực tiễn định tội danh và tổng hợp hình phạt. Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị cho công tác lập pháp hình sự cũng như việc nâng cao chất lượng xét xử trong tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam.