Chương 1: Khái quát về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện. - Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. - Chương 3: Thực tiễn việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội và kiến nghị 12 z CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT CẤP HUYỆN 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.
Khái niệm về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện Ở nƣớc CHXHCN Việt Nam, “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [11]. Việc thi hành có hiệu lực chức năng nhiệm vụ của mình, với sự phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ giữa hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp và tƣ pháp có vị trí, vai trò quan trọng để tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền lực Nhà nƣớc. Quyền tƣ pháp đƣợc thực hiện bởi hệ thống các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (VKS), Toà án, Cơ quan thi hành án. Các cơ quan này đều có nhiệm vụ chung là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ tài sản của Nhà nƣớc, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Trong đó, VKS đƣợc thành lập nhƣ một hệ thống cơ quan chuyên môn, chịu trách nhiệm trƣớc Quốc hội và thực hiện chức năng kiểm sát do Quốc hội giao cho. Ở nƣớc ta, chức năng của VKS đã từng đƣợc xác định trong Tờ trình Quốc hội về Luật tổ chức Viện KSND năm 1960: “…Vì lẽ trên phải tổ chức ra Viện KSND để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế XHCN, đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Đây cũng chính là chức năng cơ bản của Viện KSND. Việc giao cho Viện kiểm sát đảm nhiệm chức năng này là hoàn toàn phù hợp với lý luận cũng nhƣ thực tiễn.I Lênin trong tác phẩm “Bàn về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế” đã khẳng định: “…pháp chế chỉ có một, để thiết lập pháp chế thống nhất chống lại một cách hiệu quả bệnh cục bộ, địa phương chủ nghĩa cần thành lập cơ quan VKS”.
Viện kiểm sát chỉ làm một công việc mà thôi, tức là làm thế nào cho pháp chế đƣợc hiểu biết và tuân thủ thống nhất trong toàn nƣớc cộng hòa. 13 z Trong quá trình đổi mới, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã xác định vai trò của Viện KSND. Theo đó, Viện KSND là một hệ thống cơ quan có vị trí độc lập trong bộ máy nhà nƣớc, đƣợc tổ chức thành một hệ thống từ trung ƣơng xuống địa phƣơng (cấp tỉnh và huyện), có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, bảo đảm cho pháp luật đƣợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Tại Điều 1 của Luật tổ chức Viện KSND công bố ngày 12/4/2002 cũng ghi nhận lại chức năng của VKS: “Viện KSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”.
Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2002 quy định “VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Nghị quyết 49-NQ/TƢ ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 vẫn khẳng định hai chức năng cơ bản của Viện kiểm sát: “Viện KSND giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Xuất phát từ chức năng chung của ngành kiểm sát, Viện KSND cấp huyện tham gia vào quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự của Toà án nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá trình tố tụng, bảo đảm tính pháp chế trong các phán quyết của Toà án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nƣớc cũng nhƣ mọi thành viên trong xã hội. Việc tham gia của Viện KSND cấp huyện vào quan hệ pháp luật TTDS là tất yếu và khách quan, nhằm đáp ứng yêu cầu về bảo đảm sự tuân thủ theo pháp luật trong tố tụng dân sự của Toà án cấp huyện – cơ quan tƣ pháp có thẩm quyền sơ thẩm phần lớn các vụ việc dân sự, đồng thời bảo đảm quyền của con ngƣời, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự.
Dựa trên các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nƣớc ta, Toà án và Viện kiểm sát đƣợc tổ chức thành các hệ thống cơ quan có chức năng riêng biệt, độc lập với nhau và đều chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội. Toà án cấp huyện có nhiệm vụ xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nhằm bảo đảm thực hiện các quyền của công dân trong hầu hết các vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của dân sự của hệ thống Toà án. Tuy nhiên, để Toà án cấp huyện có thể đảm đƣơng một cách tốt nhất chức năng và nhiệm vụ của mình, hạn chế những sai lầm thiếu sót của Toà án cấp huyện trong quá trình xét xử thì cần 14 z phải chịu sự giám sát nhất định từ phía VKS. Với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện KSND cấp huyện tham gia vào quá trình giải quyết các vụ việc dân sự nhằm tạo ra sự kiềm chế, giám sát đối với Toà án cấp huyện, đảm bảo cho quá trình TTDS đƣợc diễn ra theo đúng các quy định của pháp luật, các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đƣơng sự đƣợc tôn trọng.
Bên cạnh việc đảm bảo sự tuân thủ pháp luật về tố tụng, việc tham gia của Viện KSND cấp huyện trong hoạt động TTDS cũng góp phần tăng cƣờng tính pháp chế trong các quan hệ pháp luật dân sự về nội dung. Theo Mác: “Nhiệm vụ của công tác xét xử bảo vệ pháp luật khỏi những vi phạm chỉ ra rằng: tố tụng là hình thức bảo vệ pháp luật”[1,tr. Nhƣ vậy, Viện kiểm sát cấp huyện là cơ quan tiến hành tố tụng với chức năng kiểm sát các hoạt động tƣ pháp – một chức năng Hiến định của Viện kiểm sát, Luật tổ chức VKSND năm 2002 xác định kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự là một lĩnh vực công tác thực hiện chức năng trên. Cụ thể theo quy định của các điều 20, 21, 22 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2002 đã quy định rất rõ ràng và chi tiết.
Điều 20 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2002 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, kịp thời”. Điều 21 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2002 quy định: “ Khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án; yêu cầu Toà án nhân dân hoặc tự mình xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án; 2. Khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật; 3.
Tham gia các phiên tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án; 4. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân; 5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; 15 z 6. Kiểm sát các bản án và quyết định của Toà án nhân dân; 7.
Yêu cầu Toà án nhân dân áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật; 8. Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật để xem xét, quyết định việc kháng nghị. Điều 22 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2002 quy định: “Khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật; kiến nghị với Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục những vi phạm pháp luật trong việc giải quyết các vụ án; nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự”. Tại Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tƣ pháp”.
Khoản 1 Điều 2 LTCVKSND công bố ngày 24/11/2014 đã ghi nhận chức năng của VKSND: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Xuất phát từ chức năng chung của ngành, VKSND tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự của TAND nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng, bảo đảm tính pháp chế trong các phán quyết của Toà án, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật đƣợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Nếu so sánh với các quy định trƣớc đây thì quyền hạn của Viện kiểm sát cấp huyện theo quy định tại Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã bị thu hẹp hơn. Theo đó, Viện kiểm sát cấp huyện đã không còn quyền tự mình xác minh hoặc yêu cầu Toà án xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án và cũng không còn quyền khởi tố vụ án dân sự nhƣ theo quy định của trƣớc đây nữa.