Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG CÁC VỤ ÁN CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ 1. Cơ sở pháp lý, khái niệm, đặc điểm của thực hành quyền công tố trong các vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 1. Quy định của Bộ luật hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự Theo Từ điển Tiếng Việt thì vay là hoạt động nhận tiền hay vật gì của người khác để chỉ dùng trước với điều kiện sẽ trả tương đương hoặc có thêm phần lãi. Điều 463 Bộ Luật Dân sự năm 2015 (sau đây gọi là BLDS 2015) quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Cùng với đó, khi tính lãi suất thì cần căn cứ vào quy định trong BLDS, cụ thể là BLDS 2015. Cụ thể tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Khoản 1 Điều 201 BLHS quy định về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau: “Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000 đồng đến dưới 100.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…” Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng 7 thẩm phán TANDTC (gọi tắt là Nghị quyết số 01/2021) cũng có quy định về khái niệm “cho vay lãi nặng” tại khoản 1 Điều 2 như sau: “Cho vay lãi nặng là trường hợp bên cho vay cho bên vay vay tiền với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS”. Nếu lãi suất cho vay gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất tối đa trên, tức là từ 100%/năm trở lên hoặc lãi suất từ 8,33%/tháng trở lên hoặc lãi suất từ 0,28%/ngày trở lên thì hành vi này có dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Cùng với hành vi cho vay trong giao dịch dân sự phải với lãi suất cao gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS thì người phạm tội phải thu lợi bất chính một số tiền nhất định quy định trong Bộ luật hình sự, cụ thể là BLHS 2015 quy định là từ 30.000 đồng trở lên thì mới có thể cấu thành tội này. Thu lợi bất chính là “số tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của BLDS và các khoản thu trái pháp luật khác của người vay” (Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2021).
Trường hợp hành vi cho vay chưa thu lợi bất chính đến 30.000 đồng thì hành vi cho vay chỉ cấu thành tội phạm nếu người phạm tội đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự có các dấu hiệu pháp lý như sau: Thứ nhất, về khách thể: Khách thể của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là xâm phạm đến chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính và hoạt động tín dụng. Cụ thể hơn là trật tự quản lý của Nhà nước về việc cho vay trong giao dịch dân sự; trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ. Đối tượng tác động của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là: hoạt động xử sự bình thường của con người, làm biến đổi tình trạng bình thường của người đi 8 vay, khiến người đi vay nảy sinh và thực hiện hành vi vay lãi nặng.
Thứ hai, về mặt khách quan: Hành vi khách quan của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được thể hiện là các hành vi hành động phạm tội, bao gồm: - Hành vi trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000 đồng trở lên. Hành vi cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS mới là điều kiện cần, việc thu lợi bất chính từ 30.000 đồng trở lên từ việc cho vay lãi nặng là điều kiện đủ để cấu thành tội phạm này. - Hành vi trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay lãi nặng trọng giao dịch dân sự mà còn vi phạm, nếu trước đó đã bị người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự [8, tr.
Theo điểm d khoản 3 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (sau đây gọi là Nghị định 167/2013/NĐ-CP) có quy định: “3. Phạt tiền từ 5.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: d) Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay”. 9 Như vậy, trường hợp người này trong giao dịch dân sự cho vay với lãi suất như trên nhưng chưa thu lợi bất chính hoặc thu lợi bất chính dưới 30.000 đồng nhưng người này đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, cụ thể là xử phạt theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì hành vi này có thể cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. - Hành vi trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Tình tiết “Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” tức là người này đã bị Tòa án kết án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được xóa án tích theo quy định của BLHS 2015 bao gồm: đương nhiên được xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án, xóa án tích trong trường hợp đặc biệt; mà lại thực hiện một trong các hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này. Hậu quả khách quan của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là điều kiện bắt buộc của tội phạm này trong trường hợp người cho vay thu lợi bất chính từ 30.000 đồng trở lên. Ngược lại, hậu quả không là điều kiện bắt buộc của tội phạm này trong trường hợp người cho vay đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Thứ ba, về mặt chủ quan: Lỗi của người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là lỗi cố ý trực tiếp.
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Thứ tư, về chủ thể: Chủ thể của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực TNHS. Trường hợp người cho vay thu lợi bất chính từ dưới 30.000 đồng thì cần có thêm một số dấu 10 hiệu nhân thân xấu như: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích thì là một trong những căn cứ để cấu thành tội phạm này. Ngoài ra, theo quy định của BLHS năm 2015 (SĐ, BS năm 2017) thì pháp nhân thương mại chưa thuộc phạm vi chịu TNHS về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 76 BLHS 2015).
Như vậy, tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự có thể được định nghĩa như sau: “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện trong giao dịch dân sự, khi cho vay với lãi suất cao gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự hiện hành mà thu lợi bất chính từ 30.000 đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Khái niệm thực hành quyền công tố trong các vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự Dưới góc độ lý luận Nhà nước và pháp luật, Viện kiểm sát là một cơ quan trong bộ máy Nhà nước với các chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Hiến pháp. “Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước” [16, tr. Như vậy, với vai trò là một cơ quan Nhà nước, Viện kiểm sát sẽ có phương pháp và hoạt động riêng do pháp luật quy định.