Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) trong lĩnh vực y tế nói chung và hành nghề dược (HND) nói riêng là công cụ quản lý nhà nước giữ vai trò thiết yếu nhằm duy trì trật tự, kỷ cương pháp luật. Dược phẩm và hoạt động hành nghề dược là lĩnh vực đặc thù mang tính nhân văn, liên quan trực tiếp và thường nhật đến tính mạng, sức khỏe của người dân. Để cụ thể hóa Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013, sau đó được thay thế bởi Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/09/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của hệ thống y tế cùng sự mở rộng tràn lan của mạng lưới nhà thuốc và cơ sở kinh doanh dược phẩm, tình trạng vi phạm hành chính về hành nghề dược diễn biến phức tạp. Theo báo cáo công tác thanh tra y tế năm 2022, dù công tác thanh tra, kiểm tra được duy trì thường xuyên nhưng thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện công cụ pháp lý. Trước yêu cầu khách quan đó, tác giả Trần Diễm Hương thực hiện khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài: "Xử phạt vi phạm hành chính về hành nghề dược – Quy định pháp luật và thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hà Nội".

Mục tiêu nghiên cứu: Mục đích của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về hành nghề dược trên địa bàn thành phố Hà Nội; qua đó chỉ ra khó khăn, vướng mắc, bất cập và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao chất lượng hoạt động xử phạt trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số cụ thể theo văn bản):

  1. Một là, phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính về hành nghề dược nói riêng; phân nhóm các hành vi vi phạm quy định về hành nghề dược và các hành vi vi phạm quy định sử dụng chứng chỉ hành nghề của người hành nghề dược.
  2. Hai là, đánh giá thực trạng xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về hành nghề dược tại thành phố Hà Nội.
  3. Ba là, đề xuất các biện pháp nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc và một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả công tác xử phạt vi phạm hành chính về hành nghề dược trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành nghề dược.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các hành vi vi phạm hành chính về hành nghề dược; các hình thức, thẩm quyền, trình tự và thủ tục xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về hành nghề dược.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ khi Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/09/2020 có hiệu lực thi hành đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2023).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc chuyên ngành Luật học (Luật Hành chính và Pháp luật Quản lý Nhà nước về Y tế), kết hợp giữa nghiên cứu lý luận quy phạm pháp luật và khảo sát thực tiễn thi hành.

Hệ thống cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm:

  • Khung lý luận về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính được đối chiếu qua các thời kỳ lập pháp: Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 (Điều 1), Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
  • Các văn bản chuyên ngành: Luật Dược năm 2016; Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 và Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/09/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế (trọng tâm là Điều 52 cùng các điều từ Điều 103 đến Điều 109 về phân định thẩm quyền).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Cơ sở phương pháp luận: Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng việc quán triệt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
  • Phương pháp nghiên cứu tổng hợp: Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu, sách báo, công trình nghiên cứu khoa học và các báo cáo, số liệu đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.
  • Phương pháp khảo sát thực tiễn: Thu thập, đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật và hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dược nhằm bảo đảm tính khách quan và tính khả thi của các đề xuất.
  • Các phương pháp bổ trợ: Sử dụng phương pháp so sánh, quy nạp, diễn giải; tiến hành thu thập và phân tích ý kiến chuyên gia có kinh nghiệm trong công tác quản lý, xây dựng chính sách và thực thi pháp luật y tế.

Nguồn dữ liệu và nghiên cứu tiền nhiệm: Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, các báo cáo thanh tra y tế năm 2022 và các công trình khoa học tiêu biểu như luận văn thạc sĩ của tác giả Đào Hồng Ngọc (2018) về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực y tế tại tỉnh Yên Bái (Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam). Đề tài khẳng định khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu về phân hệ hành nghề dược trên địa bàn đặc thù là thành phố Hà Nội để triển khai nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành nghề dược

Chương 1 xây dựng khung khái niệm, phân tích các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính, nguyên tắc, thẩm quyền và trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong hành nghề dược.

1. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính trong hành nghề dược: Dựa trên Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, tác giả xác định vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành nghề dược là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định pháp luật quản lý nhà nước về hành nghề dược mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Hành vi này hội tụ đủ 4 dấu hiệu pháp lý: tính trái pháp luật; tính có lỗi; mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm; và thuộc diện phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Do gắn liền với lĩnh vực y tế, khách thể vi phạm xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý nhà nước về tổ chức, hoạt động, trình tự, thủ tục hành nghề dược và gián tiếp đe dọa sức khỏe cộng đồng.

Bốn yếu tố cấu thành vi phạm hành chính về hành nghề dược gồm:

  • Mặt khách quan: Hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật quy định tại Nghị định số 117/2020/NĐ-CP (như cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề dược; không cập nhật kiến thức chuyên môn định kỳ 3 năm một lần).
  • Khách thể: Trật tự quản lý nhà nước đối với hoạt động hành nghề dược.
  • Chủ thể: Cá nhân (phải có năng lực trách nhiệm hành chính và đủ điều kiện chuyên môn hành nghề dược) hoặc tổ chức (doanh nghiệp dược, nhà thuốc).
  • Mặt chủ quan: Thể hiện qua lỗi cố ý (chiếm đa số do chủ thể có hiểu biết chuyên môn nhưng vì lợi nhuận vẫn vi phạm) hoặc lỗi vô ý (do thiếu thận trọng).

Một số hành vi vi phạm điển hình quy định tại Điều 52 Nghị định 117/2020/NĐ-CP được phân tích cụ thể, như hành vi thuê, mượn chứng chỉ hành nghề dược (Điểm g Khoản 2 Điều 52); hành vi người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở bán lẻ vắng mặt trong thời gian hoạt động mà không có văn bản ủy quyền (dẫn chứng trường hợp vi phạm thực tế tại Nhà thuốc Hải Đăng - Vũ Trọng Phụng, quận Thanh Xuân của ông Nguyễn Văn Thắng; Nhà thuốc Minh Châu - Ngọc Khánh, quận Ba Đình của bà Vũ Thị Hải).

2. Nguyên tắc và phân định thẩm quyền xử phạt: Hoạt động xử phạt phải tuân thủ nghiêm ngặt 6 nguyên tắc của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012: phát hiện kịp thời - xử lý nghiêm minh; nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền; căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ/tăng nặng; một hành vi chỉ bị phạt một lần; trách nhiệm chứng minh thuộc về người có thẩm quyền; mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Về thẩm quyền, các điều từ 103 đến 109 của Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định mức phạt tiền tối đa và quyền hạn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả của từng lực lượng:

Lực lượng có thẩm quyền Chức danh tiêu biểu Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong lĩnh vực dược Thẩm quyền tước giấy phép/chứng chỉ hành nghề
Ủy ban nhân dân - Chủ tịch UBND cấp xã
- Chủ tịch UBND cấp huyện
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh
- Đến 5.000.000 đồng
- Đến 50.000.000 đồng
- Đến 100.000.000 đồng
Không
Có thời hạn
Có thời hạn
Thanh tra chuyên ngành - Thanh tra viên đang thi hành công vụ
- Chánh Thanh tra Sở Y tế
- Chánh Thanh tra Bộ Y tế / Cục trưởng Cục Quản lý Dược
- Trưởng đoàn thanh tra cấp Bộ
- Đến 500.000 đồng
- Đến 50.000.000 đồng
- Đến 100.000.000 đồng
- Đến 70.000.000 đồng
Không
Có thời hạn
Có thời hạn
Có thời hạn
Quản lý thị trường - Kiểm soát viên thị trường
- Đội trưởng Đội QLTT
- Cục trưởng Cục QLTT cấp tỉnh
- Tổng cục trưởng Tổng cục QLTT
- Đến 500.000 đồng
- Đến 25.000.000 đồng
- Đến 50.000.000 đồng
- Đến 100.000.000 đồng
Không
Không
Có thời hạn
Có thời hạn
Công an nhân dân - Chiến sĩ CAND
- Trưởng Công an cấp xã
- Trưởng Công an cấp huyện / Trưởng phòng nghiệp vụ Công an tỉnh
- Giám đốc Công an cấp tỉnh
- Cục trưởng các Cục nghiệp vụ Bộ Công an
- Đến 500.000 đồng
- Đến 2.000.000 đồng
- Đến 20.000.000 đồng
- Đến 50.000.000 đồng
- Đến 100.000.000 đồng
Không
Không
Có thời hạn
Có thời hạn
Có thời hạn
Hải quan - Công chức Hải quan
- Chi cục trưởng Chi cục Hải quan
- Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh / Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu
- Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan
- Đến 500.000 đồng
- Đến 25.000.000 đồng
- Đến 50.000.000 đồng
- Đến 100.000.000 đồng
Không
Không
Có thời hạn
Có thời hạn
Bộ đội biên phòng - Chiến sĩ Bộ đội biên phòng
- Đồn trưởng Đồn biên phòng
- Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh
- Đến 500.000 đồng
- Đến 20.000.000 đồng
- Đến 100.000.000 đồng
Không
Không
Có thời hạn
Cảnh sát biển - Cảnh sát viên Cảnh sát biển
- Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển
- Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển
- Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam
- Đến 1.000.000 đồng
- Đến 20.000.000 đồng
- Đến 50.000.000 đồng
- Đến 100.000.000 đồng
Không
Không
Không
Có thời hạn

3. Thủ tục xử phạt và thi hành quyết định:

  • Phân loại thủ tục: Thủ tục không lập biên bản (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng với cá nhân, 500.000 đồng với tổ chức); Thủ tục có lập biên bản (áp dụng cho các mức phạt tiền cao hơn, tước quyền sử dụng giấy phép/chứng chỉ hoặc tịch thu tang vật).
  • Các giai đoạn: Lập biên bản (Điều 58); xác minh tình tiết (Điều 59); định giá tang vật (Điều 60); thủ tục giải trình (Điều 61 - áp dụng khi bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng với cá nhân, từ 30.000.000 đồng với tổ chức hoặc bị tước giấy phép/đình chỉ hoạt động); chuyển hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 62, 63); các trường hợp không ra quyết định xử phạt (Điều 65).
  • Thời hạn ra quyết định (Điều 66): Thông thường là 07 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản; vụ việc có tình tiết phức tạp là 30 ngày; vụ việc đặc biệt nghiêm trọng cần giải trình, xác minh là 60 ngày.
  • Thi hành và cưỡng chế: Thời hạn thi hành là 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định (Điều 68); gửi quyết định trong thời hạn 02 ngày làm việc (Điều 70); công bố công khai trên phương tiện thông tin đại chúng (Điều 72). Chậm nộp phạt bị tính thêm 0,05%/ngày trên tổng số tiền phạt chưa nộp (Điều 78). Quy định nộp phạt nhiều lần áp dụng khi mức phạt trên 20.000.000 đồng đối với cá nhân và trên 200.000.000 đồng đối với tổ chức, thời hạn tối đa 06 tháng, nộp không quá 03 lần và lần đầu tối thiểu 40% (Điều 79). Quy định hoãn thi hành phạt tiền áp dụng đối với cá nhân bị phạt từ 3.000.000 đồng trở lên có hoàn cảnh khó khăn (Điều 76). Biện pháp cưỡng chế gồm khấu trừ lương, tài khoản, kê biên tài sản bán đấu giá (Điều 86, 88). Toàn bộ tiền phạt nộp vào ngân sách nhà nước (Điều 83).

4. Các yếu tố ảnh hưởng: Tác giả xác định 5 nhóm yếu tố tác động: (1) Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật; (2) Tác động của yếu tố kinh tế và áp lực lợi nhuận; (3) Ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân hành nghề; (4) Năng lực tổ chức thực hiện của bộ máy thực thi công vụ; (5) Hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh vi phạm.

Chương 2: Thực trạng vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành nghề dược trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 2 tập trung phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn Thủ đô:

  • Khái quát mạng lưới hành nghề: Hà Nội là trung tâm tập trung mật độ cơ sở hành nghề dược lớn và đa dạng, gồm các công ty phân phối, chuỗi nhà thuốc và nhà thuốc tư nhân bán lẻ.
  • Thực tiễn vi phạm và xử phạt: Hành vi vi phạm phổ biến tập trung vào việc người chịu trách nhiệm chuyên môn vắng mặt không ủy quyền, cơ sở hoạt động vượt phạm vi cho phép, tình trạng thuê mượn chứng chỉ hành nghề dược. Hình thức xử phạt áp dụng chủ yếu là phạt tiền, kết hợp xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề dược và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp, kiến nghị thu hồi chứng chỉ).
  • Phân định thẩm quyền thực tế: Mặc dù Nghị định số 117/2020/NĐ-CP trao thẩm quyền cho nhiều lực lượng (UBND, Quản lý thị trường, Công an, Hải quan, Biên phòng, Cảnh sát biển), nhưng trên thực tế tại địa bàn Hà Nội, chủ thể giữ vai trò nòng cốt, thực hiện phần lớn các vụ việc thanh tra, lập biên bản và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành nghề dược là Thanh tra Sở Y tế thành phố Hà Nội.
  • Đánh giá kết quả, hạn chế: Công tác xử phạt đã góp phần chấn chỉnh kỷ cương, nâng cao nhận thức của các cơ sở dược. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại về việc phát hiện vi phạm chưa triệt để, kinh phí và nhân lực cho công tác thanh tra còn mỏng so với quy mô phát triển của các cơ sở bán lẻ thuốc, và tình trạng lách luật cho thuê mượn chứng chỉ hành nghề còn diễn biến tinh vi.

Chương 3: Phương hướng, giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành nghề dược từ thực tiễn thành phố Hà Nội

Chương 3 đề xuất định hướng và 4 nhóm giải pháp cụ thể:

1. Phương hướng bảo đảm:

  • Xử phạt vi phạm hành chính phải bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt, đúng quy định của pháp luật.
  • Hoạt động xử phạt phải bảo đảm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân liên quan.
  • Bảo đảm tính công khai, minh bạch xuyên suốt quy trình thanh tra, xử phạt.

2. Các nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật: Bổ sung, điều chỉnh các quy định về quản lý hành nghề dược và xử phạt vi phạm hành chính để khắc phục các khoảng trống pháp lý, nâng cao tính răn đe đối với các hành vi vi phạm chuyên môn dược.
  • Nâng cao ý thức trách nhiệm của người thực thi công vụ: Tăng cường kỷ cương, đạo đức công vụ, đề cao trách nhiệm cá nhân của cán bộ thanh tra, người có thẩm quyền xử phạt trong quá trình phát hiện và xử lý vi phạm.
  • Kiện toàn bộ máy tổ chức, nâng cao năng lực thực thi: Củng cố lực lượng thanh tra chuyên ngành y tế Hà Nội; tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và trang bị phương tiện kỹ thuật cho lực lượng trực tiếp làm công tác kiểm tra, xử phạt.
  • Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật: Tăng cường tuyên truyền sâu rộng các quy định của Luật Dược năm 2016 và Nghị định số 117/2020/NĐ-CP đến các cơ sở kinh doanh, người hành nghề dược và quần chúng nhân dân nhằm nâng cao ý thức tự giác tuân thủ.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quy định pháp lý: Khóa luận làm sáng tỏ khái niệm, bản chất, 4 yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính trong hành nghề dược; hệ thống hóa chi tiết các nguyên tắc xử phạt, quy trình thủ tục (lập biên bản, xác minh, giải trình, ra quyết định theo các mốc 07, 30, 60 ngày) và cơ chế thi hành quyết định (tính tiền chậm nộp 0,05%/ngày, điều kiện nộp nhiều lần, hoãn/giảm/miễn, cưỡng chế) theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
  • Phân định rõ thẩm quyền xử phạt theo Nghị định 117/2020/NĐ-CP: Thống kê, so sánh rành mạch hạn mức phạt tiền và quyền xử phạt bổ sung của 7 lực lượng chức năng (UBND các cấp, Thanh tra y tế, Quản lý thị trường, Công an nhân dân, Hải quan, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển) với khung phạt tối đa từ 300.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
  • Chỉ ra đặc thù thực tiễn áp dụng tại Hà Nội: Rút ra kết luận quan trọng rằng mặc dù văn bản luật phân công nhiều cơ quan có thẩm quyền, nhưng trên thực tế địa bàn thành phố Hà Nội, Thanh tra Sở Y tế là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và xử phạt.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ: Đưa ra các định hướng và giải pháp thực tiễn gắn với công tác hoàn thiện pháp luật, kiện toàn bộ máy thanh tra y tế, nâng cao năng lực cán bộ công vụ và tuyên truyền pháp luật ngành dược trên địa bàn Thủ đô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu thực tiễn giới hạn trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ khi Nghị định số 117/2020/NĐ-CP có hiệu lực đến năm 2023. Đề tài tập trung chủ yếu vào khía cạnh pháp lý xử phạt hành chính đối với các cơ sở bán lẻ và người chịu trách nhiệm chuyên môn, chưa đi sâu vào toàn bộ chuỗi cung ứng dược phẩm quy mô công nghiệp.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Khảo sát, so sánh đối chiếu thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính hành nghề dược giữa Hà Nội với các đô thị lớn khác (như TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng); tiếp tục đánh giá tác động của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành mới đối với công tác quản lý ngành dược.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Y tế; sinh viên các trường đại học y - dược cần nắm vững khung pháp lý hành nghề; cán bộ làm công tác pháp chế, thanh tra chuyên ngành y tế, cán bộ quản lý thị trường.
  • Nội dung giá trị: Khóa luận là tài liệu tra cứu hữu ích về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phân cấp theo Nghị định số 117/2020/NĐ-CP, quy trình xử lý biên bản, điều kiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và phân tích các dấu hiệu pháp lý cấu thành hành vi vi phạm trong hành nghề dược.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân tích những hành vi vi phạm hành chính điển hình nào của người hành nghề dược theo Nghị định số 117/2020/NĐ-CP?
Khóa luận tập trung phân tích các hành vi tại Điều 52 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP, bao gồm: hành vi thuê, mượn chứng chỉ hành nghề dược để hành nghề (Điểm g Khoản 2 Điều 52); hành vi cho người khác thuê, mượn chứng chỉ hành nghề; hành vi không hoàn thành chương trình cập nhật kiến thức chuyên môn định kỳ 3 năm; và hành vi người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở bán lẻ thuốc vắng mặt trong thời gian hoạt động mà không có văn bản ủy quyền (được minh họa qua các vụ việc cụ thể tại quận Thanh Xuân và quận Ba Đình).

2. Thời hạn ra quyết định xử phạt và quy định tính tiền chậm nộp phạt được xác định như thế nào trong văn bản?
Theo Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được phân tích trong khóa luận: thời hạn ra quyết định thông thường là 07 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản; trường hợp phức tạp là 30 ngày; trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có giải trình cần xác minh là 60 ngày. Về thi hành, thời hạn chấp hành là 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định; nếu chậm nộp tiền phạt, cá nhân/tổ chức bị tính thêm 0,05% trên tổng số tiền phạt chưa nộp cho mỗi ngày chậm nộp (Điều 78).

3. Cơ quan nào giữ vai trò chủ trì xử phạt vi phạm hành chính về hành nghề dược trên thực tế tại Hà Nội?
Mặc dù Nghị định số 117/2020/NĐ-CP trao thẩm quyền cho 7 nhóm lực lượng (Chủ tịch UBND các cấp, Thanh tra, Quản lý thị trường, Công an nhân dân, Hải quan, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển), khóa luận kết luận rằng trên thực tế tại thành phố Hà Nội, lực lượng chính trực tiếp tiến hành thanh tra, kiểm tra và ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành nghề dược là Thanh tra Sở Y tế thành phố Hà Nội.

4. Điều kiện để cá nhân vi phạm hành nghề dược được áp dụng hình thức nộp tiền phạt nhiều lần là gì?
Theo Điều 79 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nêu trong khóa luận, điều kiện áp dụng nộp phạt nhiều lần đối với cá nhân là mức phạt tiền phải từ 20.000.000 đồng trở lên (đối với tổ chức là từ 200.000.000 đồng trở lên). Thời hạn nộp nhiều lần không quá 06 tháng kể từ ngày quyết định có hiệu lực, số lần nộp tối đa không quá 03 lần và số tiền nộp lần thứ nhất phải đạt tối thiểu 40% tổng số tiền phạt.

5. Khóa luận nêu những yếu tố cơ bản nào ảnh hưởng đến hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành nghề dược?
Tác giả chỉ ra 5 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp gồm: mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật về dược và xử phạt vi phạm hành chính; yếu tố phát triển kinh tế và cạnh tranh thương mại; ý thức chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức kinh doanh dược; năng lực tổ chức thực hiện và trình độ của bộ máy công chức thực thi; và chất lượng của công tác kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Diễm Hương là công trình nghiên cứu hệ thống, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận pháp lý hành chính với thực tiễn áp dụng Nghị định số 117/2020/NĐ-CP trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tác giả đã làm rõ cấu thành vi phạm, phân định chi tiết thẩm quyền xử phạt của các cơ quan chức năng và chỉ ra vai trò nòng cốt của Thanh tra Sở Y tế Hà Nội trong thực thi công vụ. Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào 4 trụ cột: hoàn thiện pháp luật, nâng cao đạo đức công vụ, kiện toàn tổ chức thanh tra và đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản lý nhà nước về y tế và dược phẩm.