CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VấN Đề LÝ LUậN CỦA Xử PHạT VI PHạM HÀNH CHÍNH VỀ ĐẤT ĐAI 1. Vi phạm hành chính về đất đai 1. Khái niệm Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.(khoản1 Điều 2 Luật XLVPHC 2020); Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu một cách cụ thể:Vi phạm hành chính về đất đai là hành vi do các cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luậtvề luật đất đai, xâm phạm đến quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước, chế độ sử dụng các loại đất, cũng như xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Như vậy, vi phạm hành chính về đất đai có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, có hành vi trái pháp luật về đất đai; Để xác định có hành vi trái pháp luật đất đai thì ta phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về đất đai, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai, những phong tục, tập quán của từng địa phương để xem xét về một hành vi cụ thể.
Hai là, có lỗi. Lỗi do ý chí chủ quan của con người đối với hành vi và hậu quả do hành vi của họ gây ra được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Vì vậy phải xét yếu tố lỗi chính xác để xác định được hình thức xử phạt phù hợp với hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Phân loại vi phạm hành chính về đất đai Trong Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ( bổ sung cho Nghịđịnh 91/2019/NĐ-CP) đã giải thích một số hành vi vi phạm hành chính về đất đai tại Điều 3 như sau: Luan van 9 - “Lấn đất” là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.
- “Chiếm đất” là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây: + Tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép; + Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép; + Sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng mà không được Nhà nước gia hạn sử dụng đất và đã có quyết định thu hồi đất được công bố, tổ chức thực hiện nhưng người sử dụng đất không chấp hành (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp). + Sử dụng đất trên thực địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật. - “Hủy hoại đất” là hành vi làm biến dạng địa hình hoặc làm suy giảm chất lượng đất hoặc gây ô nhiễm đất mà làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định, trong đó: + Làm biến dạng địa hình trong các trường hợp: thay đổi độ dốc bề mặt đất; hạ thấp bề mặt đất do lấy đất mặt dùng vào việc khác hoặc làm cho bề mặt đất thấp hơn so với thửa đất liền kề; san lấp đất có mặt nước chuyên dùng, kênh, mương tưới, tiêu nước hoặc san lấp nâng cao bề mặt của đất sản xuất nông nghiệp so với các thửa đất liền kề; trừ trường hợp cải tạo đất nông nghiệp thành ruộng bậc thang và hình thức cải tạo đất khác phù hợp với mục đích sử dụng đất được giao, được thuê hoặc phù hợp với dự án đầu tư đã được Luan van 10 Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất phê duyệt hoặc chấp thuận; + Làm suy giảm chất lượng đất trong các trường/. hợp: làm mất hoặc giảm độ dầy tầng đất đang canh tác; làm thay đổi lớp mặt của đất sản xuất nông nghiệp bằng các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn sỏi, đá hay loại đất có thành phần khác với loại đất đang sử dụng; gây xói mòn, rửa trôi đất nông nghiệp; + Gây ô nhiễm đất là trường hợp đưa vào trong đất các chất độc hại hoặc vi sinh vật, ký sinh trùng có hại cho cây trồng, vật nuôi, con người; + Làm mất khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định là trường hợp sau khi thực hiện một trong các hành vi làm biến dạng địa hình, làm suy giảm chất lượng đất, gây ô nhiễm đất mà dẫn đến không sử dụng đất được theo mục đích được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất; + Làm giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định là trường hợp sau khi thực hiện một trong các hành vi làm biến dạng địa hình, làm suy giảm chất lượng đất, gây ô nhiễm đất mà phải đầu tư cải tạo đất mới có thể sử dụng đất theo mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất.
- “Giao dịch về quyền sử dụng đất” là trường hợp các bên liên quan thực hiện việc chuyển đổi hoặc chuyển nhượng hoặc tặng cho hoặc cho thuê, cho thuê lại hoặc thừa kế hoặc thế chấp hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai Trong thực tế có rất nhiều loại vi phạm pháp luật về đất đai, nếu căn cứ vào khách thể của hành vi vi phạm có thể phân ra thành hai loại vi phạm chủ yếu sau đây: Luan van 11 Vi phạm xâm hại đến quyền đại diện cho chủ sở hữu đất đai của Nhà nước Loại vi phạm này thường được thể hiện trong việc định đoạt một cách bất hợp pháp số phận pháp lí của đất đai như: Không thực hiện đúng trình tự, quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giao đất cho thuê đất, thu hồi đất; Giao đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không tuân theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật; Chuyển đổi, chuyển nhượng cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị QSDĐ mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật; Sử dụng đất không đúng mục đích ghi trong quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc không đúng mục đích theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố hoặc sử dụng đất không đúng với mục đích, loại đất ghi trong giấy chứng nhận QSDĐ; Huỷ hoại đất, làm biến dạng địa hình, suy giảm chất lượng đất, gây ô nhiễm, làm mất khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định… Vi phạm, xâm hại đến quyền của người sử dụng đất Loại vi phạm này thường được biểu hiện qua những hành vi cụ thể như: Lấn chiếm đất đai, không tuân theo những nghĩa vụ do pháp luật quy định về ranh giới, diện tích, lợi ích, chẳng hạn: Tự tiện chuyển dịch ranh giới ra ngoài phần đất được giao để mở rộng diện tích; Lấy quá mức đất mà Nhà nước giao cho mình; Mượn tạm một mảnh đất để sử dụng trong thời gian nhất định, khi hết thời hạn không trả lại cho chủ cũ mà chiếm luôn để sử dụng;Tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất có rừng đặc dụng, đất có rừng phòng hộ sang sử dụng vào mục đích khác; Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác như đưa vật liệu xây dựng, chất thải hay các vật khác lên thửa Luan van 12 đất của người khác hoặc đào bới để gây cản trở, làm giảm khả năng sử dụng đất của người khác hoặc gây thiệt hại cho việc sử dụng đất của người khác. Xử phạtvi phạm hành chínhvề đất đai 1. Khái niệm Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. (khoản2 Điều 2 Luật XLVPHC 2020) Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định; Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần; Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó; Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi vi phạm hành chính nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng;” (khoản 2 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC 2020) Qua khái niệm chung về xử phạt vi phạm hành chính, thì xử phạt vi phạm hành chính về đất đai, có thể hiểu:“Xử phạt vi phạm hành chính về đất đai là hoạt động của người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính về đất đai theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”.
Xử phạt vi phạm hành chính về đất đai thực chất là hoạt động của người có thẩm quyền tác động đến các cá nhân, tổ chức có vi phạm pháp luật về đất đai mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính thông qua các biện pháp được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước. Luan van 13 Mục đích của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là nhằm xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật đất đai nhưng chưa tới mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, góp phần tạo ra bài học để răn đe, phòng ngừa, giáo dục người sử dụng đất nâng cao ý thức chấp hành pháp luật đất đai.2 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về đất đaicấp quận XPVPHC nói chung và XPVPHC về đất đai nói riêng phải đúng thẩm quyền và đúng quy định pháp luật.