CHƯƠNG 1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỚI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT VÀ TỔNG HỢP HÌNH PHẠT KHI PHẠM NHIỀU TỘI 1.1 Khái niệm “người dưới 18 tuổi phạm tội” BLHS 2015 đã sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi phạm tội” thay cho thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” trong BLHS 1999 nhằm cụ thể hóa và thống nhất cách hiểu về độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội. Bởi lẽ theo Điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam phê chuẩn ngày 20/2/1990 quy định: “Trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi”, trong khi đó Luật trẻ em năm 2014 của Việt Nam quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Như vậy, có một khoảng trống độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được gọi tên như thế nào? Và nhiều người gọi độ tuổi đủ 16 đến dưới 18 tuổi là người chưa thành niên. Tuy nhiên, nếu quan niệm như vậy lại không phù hợp với quy định của Điều 68 BLHS 1999 quy định: “người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu TNHS theo quy định của chương này.” và có thể thấy sự thiếu thống nhất trong cách gọi tên đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội.
Vì vậy, BLHS 2015 đã thống nhất tên gọi là “người dưới 18 tuổi phạm tội” và quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS 2015 như sau: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; 2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”. Tóm lại, khái niệm “người dưới 18 tuổi phạm tội” theo BLHS 2015 không có gì khác so với khái niệm người chưa thành niên phạm tội theo Điều 69 BLHS năm 1999, theo đó người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi vào thời điểm thực hiện một tội phạm được quy định trong BLHS.2 Lý luận về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tổng hợp hình phạt khi phạm nhiều tội 1.1 Khái niệm quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Để có thể hiểu khái niệm quyết định hình phạt, chúng ta cần phải đi từ khái niệm áp dụng pháp luật và khái niệm hình phạt.
“Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi những cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hoặc các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền, thông qua trình tự thủ tục chặt chẽ mà pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể”1. “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”2. Từ hai khái niệm trên, có thể suy ra rằng quyết định hình phạt là một giai đoạn cơ bản của quá trình áp dụng pháp luật hình sự để pháp luật hình sự phát huy hiệu lực trong đời sống xã hội và chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất được quyền quyết định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Quyết định hình phạt còn là một hoạt động quan trọng của tố tụng hình sự và giữ vai trò tiền đề để đạt được các mục đích của hình phạt: Trừng trị, giáo dục, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Quyết định hình phạt đúng, chính xác, công bằng không những đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đạt được mục đích hàng đầu là giáo dục người phạm tội có ý thức tôn trọng pháp luật, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội mà còn tác động đến ý thức của mỗi cá nhân trong xã hội để họ nhận thức được tính nghiêm minh của pháp luật, từ đó đóng vai trò tích cực trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và góp phần bảo đảm tính pháp chế trong nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, ngoài những ý nghĩa trên thì quyết 1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 9 định hình phạt đúng còn ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách và tái hòa nhập cộng đồng của họ sau này. Hiện nay, trong BLHS 2015, BLTTHS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành hai bộ luật trên vẫn chưa có quy định riêng về khái niệm quyết định hình phạt.
Khái niệm quyết định hình phạt chỉ tồn tại về mặt lý luận và được đưa ra bởi nhiều tác giả trong một số công trình khoa học luật hình sự dưới đây: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội: “Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội”3. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt (đối với loại hình phạt có các mức khác nhau) trong phạm vi luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu TNHS”4. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thì: “Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội”5.
Theo tác giả Dương Tuyết Miên định nghĩa: “Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của Tòa án (Hội đồng xét xử) được thực hiện sau khi đã xác định được tội danh để định ra biện pháp xử lý tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện”6. Như vậy, về cơ bản khái niệm quyết định hình phạt của các tác giả đều thể hiện thống nhất quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn những hình phạt cụ thể áp dụng đối với người phạm tội và quyết định loại, mức hình phạt phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Dựa trên các định nghĩa về quyết định hình phạt nêu trên, tác giả cho rằng định nghĩa của quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi có thể được hiểu 3 Lê Cảm (2001), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà nội, tr. 4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nguyễn Ngọc Hòa, Nxb Công an nhân dân, tr.
315 5 Trường ĐH Luật TP.HCM (2014), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Trần Thị Quang Vinh, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 6 Dương Tuyết Miên, “Định tội danh và quyết định hình phạt”, Nxb. Lao động – Xã hội, tr.63 10 như sau: Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được hiểu là một khâu của quá trình áp dụng pháp luật thể hiện ở việc Tòa án tiến hành lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định, theo một trình tự nhất định để áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội.2 Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và phạm nhiều tội 1.1 Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt Chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm mà chưa thực hiện tội phạm vì nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Theo đó, người phạm tội mới chỉ có hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP.
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên của quá trình thực hiện tội phạm do cố ý và có các đặc điểm sau: - Thứ nhất, về mặt khách quan, hành vi chuẩn bị phạm tội thể hiện ở việc tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm. - Thứ hai, chuẩn bị phạm tội tồn tại dưới dạng hành vi vào thời điểm sớm nhất của giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Do vậy, để xác định chính xác giai đoạn chuẩn bị phạm tội, cần xác định thời điểm sớm nhất và thời điểm muộn nhất của giai đoạn chuẩn bị phạm tội. • Thời điểm sớm nhất của giai đoạn chuẩn bị phạm tội là thời điểm mà người phạm tội bắt đầu có những hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần nhằm làm cho việc thực hiện tội phạm ở những bước tiếp theo được thuận lợi và dễ dàng hơn (như bắt đầu tìm kiếm công cụ, phương tiện phạm tội, rủ rê, lôi kéo đồng bọn…); • Thời điểm muộn nhất của giai đoạn chuẩn bị phạm tội là thời điểm trước khi người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP hoặc thời điểm trước khi người phạm tội thực hiện hành vi đi liền trước hành vi khách quan của tội.
Ví dụ, tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015) có hành vi khách quan là lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Thời điểm muộn nhất của giai đoạn chuẩn bị 11 phạm tội trộm cắp tài sản là trước khi người đó thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. - Thứ ba, về mặt chủ quan, người chuẩn bị phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp, họ mong muốn thực hiện được hành vi phạm tội của mình và mong muốn hậu quả xảy ra. Tuy nhiên, họ không thực hiện tội phạm được đến cùng là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của họ.