Chương 1: Giới thiệu tổng quan đề tài nghiên cứu: Chương 2: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Các kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Lý thuyết về quyết định đầu tư và tính thanh khoản của cổ phiếu 2.1 Lý thuyết về quyết định đầu tư Đầu tư được hiểu là việc hy sinh các nguồn lực hiện tại để thực hiện các hoạt động khác với mục đích thu về kết quả lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra. Chính vì thế, mục tiêu chính của việc đầu tư là giúp đạt được các kết quả lớn hơn so với những nguồn lực đã bỏ ra và những rủi ro mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Các nguồn lực có thể kể đến trước hết là dòng tiền đầu tư, hay sức lao động… Quyết định tài chính gồm 3 loại quyết định: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối. Trong đó, quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất trong các quyết định tài chính doanh nghiệp vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp.
Một quyết định đầu tư đúng đắn sẽ làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp, và thông qua đó sẽ gia tăng giá trị tài sản. Và ngược lại, một quyết định đầu tư sai lầm sẽ làm tổn thất giá trị doanh nghiệp, và do đó sẽ làm thiệt hại tài sản cho doanh nghiệp. Ta có thể thấy quyết định đầu tư liên quan đến hai loại: thứ nhất là liên quan đến tổng tài sản và các loại tài sản cụ thể như tài sản lưu động, tài sản cố định hữu hình… và liên quan đến việc cân đối các loại tài sản này trong doanh nghiệp. Các quyết định đầu tư bao gồm: quyết định đầu tư vào tài sản lưu động, quyết định đầu tư vào tài sản cố định và quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản lưu động và tài sản cố định.
Còn nếu căn cứ vào các kết quả của hoạt động đầu tư hoặc lợi ích của việc đầu tư mang lại, có thể chia đầu tư làm 3 loại: Đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và đầu tư phát triển. Từ các quan điểm khác nhau về đầu tư mà các nhà nghiên cứu học thuật đã cho ra nhất nhiều lý thuyết về vấn đề đầu tư. Điển hình là lý thuyết đầu tư của Tobin TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong mô hình tân cổ điển, doanh nghiệp sẽ tiếp tục đầu tư đến khi lợi nhuận cận biên của vốn bằng với chi phí cận biên của vốn: MPK=R/P.
Có thể thấy, lý thuyết của Tobin khá gần với lý thuyết tân cổ điển. Theo lý thuyết q của Tobin, hệ số q phụ thuộc vào lợi nhuận hiện tại và lợi nhuận kỳ vọng của vốn tăng thêm. Nếu giá trị cận biên của vốn vượt quá chi phí vốn, doanh nghiệp sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn từ lượng vốn tăng thêm (vốn đầu tư). Lợi nhuận tăng thêm sẽ được bổ sung vào vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và do đó làm tăng giá trị thị trường doanh nghiệp, từ đó làm tăng q.
Tương tự, khi giá trị biên của vốn thấp hơn chi phí vốn, doanh nghiệp có thể bị lỗ và do đó giá trị thị trường của doanh nghiệp giảm, hệ số q sẽ giảm. Theo Tobin, khi thị trường đánh giá một công ty cao hơn giá trị vật lý của công ty đó nghĩa là các nhà đầu tư sẽ cảm thấy công ty này có khả năng phát triển trong tương lại. Và để đo lường theo Tobin đã lấy tỷ số giữa giá trị thị trường và giá trị thay thế của một tài sản hữu hình, tỷ số này là tỷ số Q. Nếu giá trị của Q lớn hơn 1, lúc này công ty nên thúc đẩy việc đầu tư để tăng trưởng.
Còn khi giá trị của Q nhỏ hơn 1 thì công ty giảm đầu tư để giá trị vật lý của công ty tự động giảm dần. Sử dụng mô hình cấu trúc q của Tobin, Chen và cộng sự (2011, 2014), Bond và Soderbom (2013), Hennessy và cộng sự (2007) đã đánh giá ảnh hưởng của loại hình sở hữu doanh nghiệp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Điểm khác biệt và là ưu điểm của mô hình q của Tobin là đo lường độ nhạy của vốn đầu tư được phản ảnh bởi kỳ vọng vào lợi nhuận tương lai dựa trên giá trị lợi nhuận hiện tại. Và lý thuyết q của Tobin nhấn mạnh rằng các quyết định đầu tư phụ thuộc không chỉ vào các chính sách kinh tế hiện tại mà còn dựa vào sự kỳ vọng vào tương lai của các nhà đầu tư.2 Tổng quan về tính thanh khoản của cổ phiếu Nội dung chính được nghiên cứu trong bài là mối quan hệ giữa đầu tư và tính thanh khoản của cổ phiếu, những khía cạnh chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam.
Chính vì thế để hiểu rõ hơn về vai trò của việc đầu tư đối với tính thanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 khoản của cổ phiếu của các công ty chúng ta sẽ tìm hiểu tổng quan về tính thanh khoản của cổ phiếu. Thanh khoản là một khái niệm mang ý nghĩ trừu tượng và có rất nhiều cách định nghĩa về thanh khoản. Đơn giản nhất, thanh khoản chính là mức độ dễ dàng của việc giao dịch một chứng khoán nào đó. Thanh khoản cũng được định nghĩa là khả năng chuyển đổi một tài sản hay cổ phiếu thành tiền mặt mà không làm ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng rất ít đến giá trị của tài sản hay cổ phiếu đó.
Theo Amihud (2002) tính thanh khoản của chứng khoán là việc dễ dàng mua đi bán lại một chứng khoán. Một tài sản có tính thanh khoản cao thường được đặc trưng bởi khối lượng giao dịch lớn. Theo Kyle (1985), tính thanh khoản được tạo nên từ các thành phần như: Chi phí bỏ ra trong việc tìm kiếm đối tác hay chi phí rủi ro do việc trì hoãn giao và rủi ro từ việc thị trường không hoàn hảo. Chính vì thế có rất nhiều thước đo thanh khoản được các nhà nghiên cứu xây dựng và mỗi thước đo này lại tập trung vào các khía cạnh khác nhau trong định nghĩa về thanh khoản này.
Tiêu biểu là một số cách đo lường sau: Amihud (2002) đo lường tính thanh khoản của cổ phiếu dựa vào độ nhạy cảm của giá. Lesmond (1999) đo lường tính thanh khoản của cổ phiếu dựa trên tần suất ngày giao dịch có tỷ suất sinh lợi bằng 0, Roll (1984) thì lại đo lường tính thanh khoản của cổ phiếu dựa trên chênh lệch giá mua – bán. Đối với các nhà đầu tư thì khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn nhất. Thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể mua bán các chứng khoán của mình một cách dễ dàng.
Nhà đầu tư sẽ cảm thấy an tâm hơn khi bỏ vốn vào những tài sản có tính thanh khoản cao thay vì những tài sản kém thanh khoản vì đặc tính này sẽ giúp họ dễ dàng thu hồi lại tiền từ đầu tư của mình. Điều này rất quan trọng để nhà đầu tư thực hiện nhanh chóng các quyết định thu hồi vốn từ các danh mục đầu tư hiện hữu với chi phí thấp nhất. Việc để bán một chứng khoán kém thanh khoản là rất khó, thậm chí có khi là không thể bán được trừ khi chấp nhận bán tháo với giá rất thấp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Như vậy nhà đầu tư nắm giữ một tài sản hay chứng khoán có thanh khoản kém sẽ gánh chịu mức rủi ro cao hơn.
Theo lý thuyết về lợi nhuận và rủi ro thì các tài sản như vậy nhà đầu tư sẽ yêu cầu mức suất sinh lời cao để bù lại cho phần rủi ro gánh chịu, nghĩa là giữa tỷ suất sinh lời và thanh khoản phải có mối quan hệ nghịch biến. Tóm lại tính thanh khoản của một cổ phiếu được đo lường bởi rất nhiều đại lượng khác nhau tùy theo từng nghiên cứu của tác giả. Tiếp theo chúng ta sẽ xem xét tính thanh khoản này đối với các công ty bị hạn chế tài chính.3 Lý thuyết về hạn chế tài chính của doanh nghiệp Trước hết để có thể hiểu rõ mối quan hệ về tính thanh khoản và đầu tư của công ty đối với các công ty bị hạn chế tài chính chúng ta cần xem xét các lý thuyết khác nhau về vấn đề hạn chế tài chính này. Đối với một quyết định đầu tư thì việc dùng nguồn tài trợ nào là điều cần được quan tâm hơn hết.
Có hai nguồn tài trợ cho đầu tư là nguồn vốn bên trong và nguồn vốn từ bên ngoài. Đối với mỗi nguồn vốn, các doanh nghiệp đều phải trả chi phí sử dụng vốn. Đối với các doanh nghiệp huy động vốn từ nguồn đi vay thì phải trả lãi vay cố định hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm. Đối với lợi nhuận giữ lại sẽ được dùng để chi trả cổ tức cho cổ đông.
Và dòng cổ tức này sẽ được các cổ đông tái đầu tư. Chính vì thế nếu sử dụng nguồn vốn bên trong thì các doanh nghiệp phải chi trả bằng với chi phí cơ hội mà các cổ đông dùng dòng tiền cổ tức để đầu tư mới. Còn nếu phát hành cổ phần mới, sẽ làm gia tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành và từ đó sẽ giảm tỷ suất sinh lợi từ việc đầu tư của các cổ đông và sẽ làm giá cổ phiếu sụt giảm. Từ việc giá cổ phiếu sụt giảm sẽ làm cho giá trị thị trường của các cổ phiếu mà cổ đông sở hữu sụt giảm và lợi nhuận sinh ra từ cổ phiếu bị pha loãng.
Chính vì thế, một quyết định đầu tư không hiệu quả sẽ làm cho doanh nghiệp gánh chịu áp lực rất lớn từ chi phí sử dụng vốn từ các nguồn bên trong hoặc bên ngoài và dẫn đến nguy cơ phá sản ngày càng tăng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Petersen (1988) đánh giá vấn đề hạn chế tài chính dựa vào tỷ lệ chi trả cổ tức. Các doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức giảm là doanh nghiệp nhiều hạn chế tài chính, còn các doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức bằng hoặc tăng là những doanh nghiệp ít hoặc không hạn chế tài chính.
Khó khan của các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính là các doanh nghiệp này sẽ khó tiếp cận nguồn vốn bên ngoài điều này làm cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp này phải chịu ảnh hưởng từ nguồn vốn bên trong.