lời mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tới ý nghĩa của Điều lệ đối với quyền lợi của thành viên HTX: “Điều lệ này của HTX sản xuất nông nghiệp rất quan trọng. Nó nhằm đảm bảo quyền làm chủ tập thể của các xã viên”. So với giai đoạn trước 1958, các quyền và nghĩa vụ của xã viên đầy đủ hơn và các quy định đã bắt đầu đi vào những vấn đề cụ thể. Tuy nhiên, vẫn có thể dễ dàng nhận thấy những hạn chế của Điều lệ tóm tắt 1969 trong những quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ xã viên như: - Chưa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ.
Ví dụ Điều lệ không đề cập đến quyền ra HTX, quyền chuyển vốn góp hoặc được trả lại vốn góp, quyền được hưởng lãi theo vốn góp và công sức đóng góp, quyền được HTX đào tạo bồi dưỡng… Toàn bộ quyền và nghĩa vụ của xã viên trong Chương 2 của Điều lệ chỉ vỏn vẹn trong ba câu với chưa đến 200 từ. - Nhiều quyền và nghĩa vụ còn được quy định khá chung chung, đặc biệt là các nghĩa vụ còn mang tính “khẩu hiệu”, nặng về giáo dục như: “ra sức lao động sản xuất, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau như con một nhà, làm đúng các chính sách của Đảng, Chính phủ và pháp luật của Nhà nước”, “HTX phải quản lý theo đúng nguyên tắc xã hội chủ nghĩa”, “tất cả các cán bộ HTX … phải có công tâm, có ý thức tiết kiệm, phát triển sản xuất”… 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Xã viên có nghĩa vụ phải góp toàn bộ tư liệu sản xuất: ruộng đất, trâu bò, các công cụ chủ yếu như cày, bừa, guồng nước… cho HTX. HTX không được đem ruộng đất và các công cụ chủ yếu giao khoán cho hộ xã viên. Việc công hữu hoá toàn bộ tư liệu sản xuất và biến nông dân thành “công nhân nông nghiệp” làm thuê cho HTX như vậy thực chất đã đi ngược lại với tôn chỉ, mục đích, bản chất của HTX.
Đặc biệt, trong giai đoạn này, do những điều kiện lịch sử nhất định, việc thực thi các quy định về quyền và nghĩa vụ thành viên HTX trong thực tế tồn tại khá nhiều bất cập. Một số quyền cơ bản của xã viên, có lúc, có nơi đã bị vi phạm nghiêm trọng như: thúc ép, cưỡng bức nông dân vào HTX, vi phạm nguyên tắc tự nguyện tham gia HTX; phân phối theo nguyên tắc “bình công chấm điểm”, không có khái niệm hưởng theo vốn góp… Mặt khác, cũng do cách thức quản lý tập trung bao cấp đã khiến cho không ít xã viên coi HTX là của Nhà nước, của chính quyền mà chưa thấy hết được trách nhiệm, nghĩa vụ xây dựng HTX của mình. Dự thảo Điều lệ HTX sản xuất nông nghiệp (bậc cao) 1974 đã kế thừa và phát triển bản Điều lệ tóm tắt của HTX sản xuất nông nghiệp 1969 trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ở miền Bắc. So với Điều lệ tóm tắt 1969 thì Dự thảo Điều lệ 1974 đã có sự phát triển rõ rệt cả về nội dung cũng như kỹ thuật lập pháp.
Toàn bộ Chương 2 từ Điều 4 đến Điều 7 quy định về điều kiện gia nhập HTX, về nghĩa vụ và quyền lợi của xã viên và về các trường hợp xã viên ra HTX. Trước hết, Dự thảo Điều lệ HTX năm 1974 đã lần đầu tiên thể chế hoá các điều kiện gia nhập HTX và các trường hợp ra HTX. Các quyền của xã viên trong Điều lệ đã được phân tách rõ ràng, cụ thể thành 5 quyền cơ bản: quyền được lao động theo khả năng và được trả công; quyền được bầu cử ứng cử; quyền được phê bình, khiếu nại, tố cáo; quyền được hưởng các phúc lợi của HTX và quyền được làm kinh tế phụ gia đình. Tuy nhiên, một số quyền của xã viên vẫn bị hạn chế như: xã viên không được hoàn trả vốn góp trong trường hợp thoát ly khỏi địa phương đi làm cán bộ, công nhân, bộ đội hoặc xã viên chết thì gia đình không được rút phần 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vốn góp của xã viên đó.
Ngược lại, một số quyền lại được coi như “cha truyền con nối” mà về thực chất là không đúng với tính chất của HTX như: con xã viên đến tuổi lao động được kết nạp làm xã viên thì không phải đóng góp vốn cổ phần. Điều 3 Dự thảo Điều lệ HTX 1974 quy định nhiệm vụ của HTX, trong đó có những nhiệm vụ cụ thể tương ứng với quyền của xã viên như: đảm bảo thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, mở rộng phúc lợi tập thể, không ngừng nâng cao trình độ cho cán bộ và xã viên… Dự thảo Điều lệ HTX sản xuất nông nghiệp (bậc cao) 1974 tuy không được chính thức ban hành, song trong thực tế nó đã được nhiều HTX vận dụng và quan trọng hơn cả là nó đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy và kỹ thuật lập pháp, tạo tiền đề cho sự phát triển và hoàn thiện pháp luật về HTX sau này. Như vậy, trong giai đoạn từ 1958 đến 1988, cùng với các chính sách của Đảng và Nhà nước, Điều lệ HTX bậc thấp và Điều lệ tóm tắt của HTX bậc cao đã được ban hành cũng như Dự thảo Điều lệ HTX bậc cao năm 1974 đã đánh dấu một bước phát triển rất quan trọng của chế định quyền và nghĩa vụ thành viên HTX cũng như của bản thân nội hàm hai khái niệm này. Tuy nhiên, vào cuối giai đoạn 1958-1988, trên phạm vi cả nước, mô hình HTX theo kiểu tập trung, qui mô lớn đã không phù hợp dẫn đến sự khủng hoảng không chỉ diễn ra trong các HTX mà ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân, đòi hỏi phải có sự đổi mới cơ chế quản lý đối với HTX.
Có thể nói đây cũng là một thời kỳ khủng hoảng về quan điểm, đường lối, chính sách về HTX. Trong suốt gần 15 năm kể từ khi Dự thảo Điều lệ HTX sản xuất nông nghiệp bậc cao năm 1974 ra đời (nhưng không được ban hành), không có văn bản pháp lý tương đương nào được ban hành để điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các HTX. Khu vực kinh tế HTX trong thời kỳ này được điều chỉnh bởi các đường lối, chính sách của Đảng thông qua các Nghị quyết, Chỉ thị… của Đảng như: Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá V tháng 9/1979, Chỉ thị số 100/TW của Ban Bí thư… 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chế định quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX trong giai đoạn từ 1988 đến nay: Với việc Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 10 ngày 5/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và Nghị quyết số 16 ngày 15/7/1988 về đổi mới quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các HTX trong giai đoạn này có địa vị pháp lý, chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động thay đổi về chất so với những giai đoạn trước đó.
Những văn bản pháp luật quan trọng nhất thể hiện việc thể chế hoá đường lối trên của Đảng là Hiến pháp 1992 và 2001, Bộ luật Dân sự 1995 và 2004, Luật HTX 1996 và 2003, các Điều lệ mẫu của các HTX 1997… Những thay đổi quan trọng nhất trong quyền của xã viên HTX được thể hiện trong các quy định sau: Về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất: Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định dài hạn trong khoảng 10-15 năm và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ xã viên HTX; luật pháp quy định cụ thể về việc thừa kế và chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tài sản cố định, tư liệu sản xuất mà HTX quản lý sử dụng kém hiệu quả có thể được chuyển nhượng, bán hoá giá cho hộ xã viên. Những tài sản do người lao động góp vào HTX được định giá để xác định phần lãi mà xã viên sẽ được hưởng, được chuyển nhượng hoặc được trả lại cho xã viên khi họ ra HTX. Mặc dù ruộng đất, về nguyên tắc vẫn thuộc sở hữu toàn dân, song các quyền đối với ruộng đất mà Nhà nước trao cho nông dân như: sử dụng lâu dài, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất… cũng rất gần với quyền sở hữu đất đai của xã viên. Về quan hệ quản lý, Nghị quyết số 10 và Nghị quyết số 16 khẳng định vai trò tự chủ của hộ xã viên, xoá bỏ chế độ kế hoạch hoá tập trung; chuyển chức năng của HTX sang làm dịch vụ “đầu ra, đầu vào” cho hộ xã viên.
Tập thể xã viên HTX có quyền tự chủ hoàn toàn trong việc tổ chức và hoạt động của HTX theo quy định của pháp luật. Nhà nước và các cơ quan quản lý không can thiệp sâu vào công tác tổ chức và điều hành hoạt động của HTX. 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về quan hệ phân phối: thay thế chế độ phân phối theo công điểm bằng việc thực hiện phân phối theo lao động, theo vốn góp và theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX. Xã viên chỉ có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và đóng góp xây dựng quỹ của HTX.
Các hoạt động dịch vụ sản xuất giữa HTX với xã viên đều thông qua quan hệ hợp đồng. Có thể nói, đến Nghị quyết số 10 và Nghị quyết số 16 của Bộ Chính trị, các quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX đã được phát triển và đổi mới cả về chất và lượng so với cả giai đoạn mấy chục năm trước đó, đặc biệt là đối với những quyền và nghĩa vụ cơ bản nhất trong mối quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Sự phát triển này tạo tiền đề vững chắc cho công tác pháp điển hoá quyền và nghĩa vụ thành viên HTX trong giai đoạn sau này. Tuy nhiên, quá trình thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế tập thể trong thực tế đã gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc mà một trong những nguyên nhân cơ bản là tình trạng lạc hậu, không đồng bộ và thiếu các văn bản pháp luật về HTX, trong đó có các quy định về quyền và nghĩa vụ của xã viên HTX.
Trong điều kiện cả nước bước vào công cuộc đổi mới đất nước và nền kinh tế đang chuyển hướng sang kinh tế thị trường thì các HTX lại chậm được hướng dẫn chuyển đổi nên từ cuối những năm tám mươi, phong trào HTX lâm vào tình trạng khủng hoảng. Ngày 20/3/1996, Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật HTX.