CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN DE TAI 11, ĐÁNH GIÁ NHUNG KET QUA NGHIÊN CUU ĐÃ ĐƯỢC CONG BO LIEN QUAN DEN DE TAI “Quyên tài phán của quốc gia trên biển - những vấn dé lý luận và thực tiên” là đề tài tương đối mới và hầu như chưa được nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt trong đào tạo và nghiên cứu khoa học ở trình độ tiến sỹ chuyên ngành luật. Nói như vậy không có nghĩa rang các nội dung liên quan đến dé tài này chưa từng được dé cập đến trước đó. Mặc dù chưa được nghiên cứu một cách trực diện và tổng thể, tuy nhiên cùng với các quy định của pháp luật biển nói chung và UNCLOS nói riêng, vấn đề quyền tài phán của quốc gia trên biển cũng đã ít nhiều được xem xét thông qua các công trình nghiên cứu khoa học với nhiều hình thức khác nhau như: bài viết hội thảo, tạp chí, sách hay chuyên đề nghiên cứu khoa học.
Có thé tạm chia các công trình nghiên cứu này thành hai nhóm là công trình nghiên cứu ở nước ngoài và các công trình ở trong nước. Trong đó, đối với các công trình nghiên cứu của nước ngoài, hoặc chỉ tập trung vào những vấn đề pháp lý liên quan đến cách thức xác định và quy chế pháp lý các vùng biển; hoặc làm sáng tỏ một số điều khoản nhất định nào đó trong UNCLOS; hoặc nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật quốc tế, UNCLOS và thực tiễn giải quyết tranh chấp trên biển giữa các quốc gia trên thế giới. Trong các công trình này, vấn đề quyền tài phán của quốc gia trên biển chủ yếu được lồng ghép trong quy chế pháp lý các vùng biển, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu quyền tài phán quốc gia trên biển một cách độc lập. Tương tự, ở trong nước, các tác giả cũng chủ yếu khai thác một hoặc một số khía cạnh liên quan đến các quy định của UNLCOS về các vùng biển, cơ chế giải quyết tranh chấp biến, vấn đề khai thác chung, vấn đề phân định biển.
Các công trình nghiên cứu đã được công bồ tại Việt Nam có điểm khác biệt là đã đề cập trực tiếp đến hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên chưa có công trình nào tập trung làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tài phán riêng biệt của Việt Nam — với tư cách là một quốc gia ven biển - trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Hau hết các công trình nghiên cứu đều tiếp cận gián tiếp thông qua quy chế pháp lý các vùng biến, hoặc có một vài công trình dưới dạng các bài báo tập trung nghiên cứu về quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam với những lĩnh vực cu thé phù hop với nhiệm vụ nghiên cứu của công trình khoa học ấy. Mục tiêu của Chương | là trình bày một cách khái quát các kết quả nghiên cứu đã được công bố liên quan đến dé tài, đồng thời đánh giá về giá trị tham khảo của 7 những kết quả đó trong quá trình thực hiện đề tài, để từ đó xác định phương hướng và những mục tiêu nghiên cứu trong các chương tiếp theo của Luận án.
Thứ tự đánh giá các kết quả nghiên cứu sẽ phù hợp với những nội dung nghiên cứu bao gồm việc đánh giá những kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn liên quan đến định nghĩa và các nguyên tắc xác định quyền tài phán của quốc gia trên biển; những kết quả nghiên cứu về quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với hoạt động đi lại của tàu thuyền nước ngoài trong các vùng biến, quyền tài phán của quốc gia đối với hoạt động thăm dò, khai thác và quan lý tài nguyên thiên nhiên, quyền tài phán của quốc gia ven bién đối với hoạt động nghiên cứu khoa học bién,. qua đó làm rõ những thành tựu và han chế của hệ thống pháp luật và thực tiễn thi hành quyền tài phán của quốc gia trong các lĩnh vực này, làm cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp khả thi để hoàn thiện pháp luật và thực tiễn thi hành quyên tài phán của Việt Nam trên các vùng biển. Đánh giá những kết quả nghiên cứu về định nghĩa, đặc điểm và lịch sử hình thành nội dung quyền tài phán của quốc gia trên biển - Vé định nghĩa quyên tài phán và quyền tài phán của quốc gia trên biển: Trên thực tế, định nghĩa về quyền tài phán nói chung đã ít nhiều được đưa ra trong các công trình nghiên cứu trước đó với những quan điểm khá khác nhau. Chính vì vậy, cho đến hiện nay, vẫn chưa có định nghĩa “quyền tài phán” hay “quyền tai phán quốc gia trên biển” được thừa nhận chung trong pháp luật quốc tế.
Trong cuốn “Black’s Law Dictionary” của tác giả Bryan A.Garner, định nghĩa về quyên tài phán (Jurisdiction) được hiểu là: “Thdm quyên của một tòa án hoặc thẩm phan (đã được ghi nhận trong Hién pháp) dé đưa ra một bản án hoặc các biện pháp khắc phục theo quy định của pháp luật dựa trên những vụ việc thực tễ 71741. Từ điển Oxford Dictionary cũng giải thích: “Quyên tài phán là quyên lực công dé dua ra các quyết định và phán quyết có giá trị pháp lý ”[151]. Tác giả Luc Reydams trong cuốn sách “Universal Jurisdiction: International and Municipal legal perspectives” lại chỉ ra răng "quyền tài phán là quyên lực pháp lý hoặc thẩm quyên của Nhà nước để thực hiện chức năng của Chính phủ" hoặc "quyên lực của Nhà nước đối với con người (tự nhiên nhân) và những hành vi can thiết dé thiết lập trật tự pháp lý của nó"[104. Ngoài ra, do mục tiêu của cuốn sách là làm sáng tỏ một số van dé lý luận về quyền tai phán phổ quát trong luật quốc tế, do đó, bên cạnh định nghĩa chung về quyên tài phán của quốc gia, Luc Reydams cũng đã giải thích và đưa ra quan điểm cá nhân về nội hàm của định nghĩa quyền tai phán phổ quát.
Tiếp đó, trong cuốn “Jurisdiction of State Coastal over Foreign merchant ships in internal waters and the territorial sea ”, mac dù không đưa ra định nghĩa chính thức nào về quyền tài phán của quốc gia, tuy nhiên, trong tác phẩm này, Hai Jiang Yang đã khang định rằng: “Quyền tài phán thường được sử dụng rộng rãi chủ yếu theo ba cách 8 với các ý nghĩa khác nhau. Pau tiên, theo nghĩa rộng, nó có nghĩa là thẩm quyển của một Nhà nước dé thực hiện chủ quyên của mình, bao gom bất kỳ loại quyên hạn và chức năng nào được cho phép theo quy định của luật pháp quốc tế. Ở khía cạnh khác, quyên tài phán có thé dùng dé chỉ quyên của một Nhà nước trong việc xây dựng các quy tắc ứng xử và áp dụng quy tắc đó trong quá trình xét xử tại các tòa án để xác định các hành vi vi phạm các quy tắc và hậu quả của hành vi vi phạm do. Cuối cùng, theo nghĩa hẹp, quyên tài phan dùng dé chỉ "quyén của tòa án trong việc xét xử"[§9].
Nhu vậy, tùy từng hoàn cảnh và quan điểm mà một định nghĩa theo nghĩa hẹp hay rộng về quyền tài phán có thê được sử dụng. Khác với cách đặt van dé của Hai Jiang Yang, với tư cách là cơ quan giúp việc của Liên hợp quốc, trong báo cáo tại kỳ họp thứ 58 năm 2006, Ủy ban Pháp luật quốc tế (viết tắt là ILC) đã đưa ra định nghĩa về quyền tài phán, theo đó “Quyên tài phán của một quốc gia có thé được hiểu là quyền chủ quyên hoặc thẩm quyên của một nhà nước. Đặc biệt hơn, quyên tài phán của một quốc gia có thể được chia thành 3 loại: quyên lập pháp, quyên xét xử và quyên thi hành pháp luật ”[120,156-158]. Tiếp ngay sau đó, Vaughan Lowe va Christopher Staker trong cuốn “Jnternational Law” do Malcolm D.
Evans chủ biên cho rằng: “Quyển tài phán là một thuật ngữ mô tả những giới hạn thẩm quyển theo pháp luật của một quốc gia hoặc các cơ quan quản lý có thẩm quyền khác (như cộng đông châu Au) dé thực hiện, áp dung và thực thi các quy tắc ứng xử đối với con người. Nó liên quan thiết yếu đến phạm vi quyên của mỗi quốc gia dé diéu chỉnh hành vi hoặc hậu quả của các sự kiện ”[123,313-3 14]. Cách hiểu này đã từng được đề cập đến trong “The doctrine of International Jurisdiction Revisited after twenty years” của Frederick A. Mann với quan niệm: “Thuật ngữ quyển tài phán thường được dùng để mô tả quyên pháp lý của quốc gia dé xác định và thực thi các quyên và nghĩa vụ và kiểm soát hành vi của các thể nhân và pháp nhân.
Một quốc gia thực hiện thẩm quyên tài phán của minh bang cách thiết lập các quy định (đôi khi được gọi là thực hiện thẩm quyên lập pháp hoặc thẩm quyên pháp lý), bằng cách thiết lập các thủ tục cho việc xác định hành vi vi phạm các quy định và hậu quả của chúng (đôi khi được gọi là thẩm quyên tr pháp hoặc thẩm quyên xét xử), và bằng cách áp dung những hau qua cho các hành vi này như mat tự do hoặc tài sản vi phạm hoặc, trong khi chờ xét xử, bị cáo buộc phải thực hiện do vi phạm các quy tắc (đôi khi được gọi là thẩm quyên thực thi hay thẩm quyên) ”[§7. Tại Việt Nam, “Tir điển Bách khoa quân sự Việt Nam” cũng ghi nhận: “Quyên tài phán là quyên của cơ quan hành pháp và tư pháp của một quốc gia xem xét và giải quyết vụ việc theo thẩm quyên của mình” [67]. Trong khi đó “Từ điển pháp luật Anh - Việt” do Nguyễn Thành Minh chủ biên thì giải thích quyền tài phán là “Quyên lắng nghe và phản quyết một vụ kiện hay dua ra một an lệnh nào do của toa” [42]. Nhu 9 vay, cách hiểu về quyên tài phan trong từ điển này tương đối hep, chỉ giới hạn trong thâm quyền xem xét và ra phán quyết của tòa án nói chung.
Khác với các từ điển trên, trong “Tir điển Luật học ” do Viện Khoa học pháp lý biên soạn lại không có định nghĩa về quyền tài phán nói chung mà đề cập đến thâm quyền xét xử của tòa án, theo đó, “Tham quyên xét xử của Tòa được hiểu là một quyên chuyên biệt được trao riêng cho Tòa án, đây là quyên chung của các tòa án, không có sự phân cấp, phân vùng lãnh thổ” [72,701-702]. Tuy nhiên, thâm quyền này cũng có thé được hiểu là thâm quyền riêng của từng tòa được phân định theo cấp, theo khu vực hành chính và theo vụ việc.