Lời mở đầu như sau: “Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình thế giới”; “Con người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri và phải đối xử với nhau trong tình bác ái” (Điều 1). Quy định này đã cho thấy một bước ngoặt vô cùng to lớn trong các cuộc đấu tranh để bảo vệ nhân quyền của pháp luật quốc tế. Quyền riêng tư chính thức được công nhận là một trong những quyền cơ bản của con người và được ghi nhận lần đầu tiên trong Tuyên ngôn này. Điều 12 định nghĩa về quyền riêng tư (right to privacy) như sau: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nhà ở hoặc thư tín cũng như bị xúc phạm về nhân phẩm hoặc uy tín của cá nhân.
Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại sự xúc phạm và can thiệp như vậy”. Có thể thấy, Điều 12 chú trọng đến cả những mối quan hệ gắn bó mật thiết trong đời sống thường ngày với cá nhân như nơi ở, gia đình, thư tín và bao gồm cả những giá trị mang tính định tính như thanh danh, danh dự. Điều này đã tạo điều kiện cho việc nội luật hóa các giá trị đời tư cá nhân của pháp luật quốc tế vào pháp luật quốc gia. Năm 1950, Công ước bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do (European Convention on Human Rights) ra đời.
Đi cùng sự phát triển của công nghệ thông tin, quyền riêng tư ngày càng nhận được sự chú ý vào cuối những năm 60 của Thế kỷ XX. Năm 1966, Liên Hợp 16 Quốc đã thông qua hai công ước quan trọng là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights - ICESCR) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Conenant on Civil and Polictical Rights - ICCPR), cùng nhiều hiệp ước và nghị định thư về nhân quyền. Điều 17 ICCPR khẳng định: “1. Không ai bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín.
Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”. Ngoài ra, Bình luận chung số 16 tại phiên họp thứ 32 của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc (Human Rights Committee) năm 1988 cũng đề cập đến việc quy định quyền được bảo vệ đời tư với mục đích là “nhằm bảo vệ chống lại những xâm phạm tùy tiện hay bất hợp pháp từ các chủ thể khác gồm mọi thể nhân, pháp nhân hay từ phía cơ quan nhà nước”. Để làm rõ hơn, Bình luận chung số 16 cũng đã giải thích: “bất hợp pháp” là sự can thiệp không dựa trên nền tảng quy định của pháp luật được xây dựng phù hợp với các quy định và mục đích của ICCPR. Ở mức độ xâm phạm cao hơn, cụm từ “can thiệp tùy tiện” được sử dụng để chỉ những hành động mà mặc dù dựa trên những quy định pháp luật nhưng không phù hợp hoặc trái với những quy định và mục đích của Công ước14.
Khoản 1 Điều 8 Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên minh Châu Âu (Charter of Fundamental Rights of the European Union) đã sử dụng cụm từ “bảo vệ dữ liệu cá nhân”. Theo đó, “mọi người đều có quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân liên quan đến người đó”. Như vậy, về cơ bản, bảo vệ dữ liệu cá nhân đã trở thành một quyền con người. Ngày 14/12/1990, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết số 45/49 hướng dẫn về quy chế số hóa hồ sơ dữ liệu cá nhân, với nguyên tắc “thông tin về các cá nhân không nên được thu thập, xử lý một cách bất công hoặc bất hợp pháp và cũng không nên dùng trái với những mục đích, nguyên tắc của Hiến chương Liên 14 Vũ Công Giao, Nguyễn Anh Đức, “Thực hiện các quyền hiến định trong Hiến pháp năm 2013”, trích “Quyền riêng tư dưới công ước quốc tế và luật pháp Việt Nam”.
Hơn nữa, những chủ thể đặc biệt cũng đã được chú trọng bảo vệ đời tư cá nhân qua các công ước như Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (CRC – Convention on the Rights of the Child), Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD - Convention on the Rights of Persons with Disabilities). Theo đó, Điều 16 CRC ghi nhận: “1. Không trẻ em nào phải chịu sự can thiệp tùy tiện hay bất hợp pháp vào việc riêng tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín cũng như những sự công kích bất hợp pháp vào danh dự và thanh danh của các em; 2. Trẻ em có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp hay công kích như vậy”, và Điều 22 CRPD quy định về việc tôn trọng cuộc sống riêng tư như sau: “1.
Không người khuyết tật nào, dù họ sống ở bất cứ đâu, cư trú ở khu vực nào, bị can thiệp vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nhà riêng hoặc thư tín, hoặc bất kỳ hình thức giao tiếp nào, hay bị tấn công trái pháp luật vào danh dự và uy tín của mình một cách tùy tiện hoặc trái pháp luật. Người khuyết tật có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp hoặc tấn công nêu trên; 2. Các quốc gia thành viên phải bảo vệ tính riêng tư của các thông tin cá nhân, thông tin về sức khỏe và sự hồi phục của người khuyết tật trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Nhìn chung, việc giới hạn sự can thiệp của nhà nước vào đời tư công dân rất quan trọng, nhưng vấn đề lớn hơn đang được đặt ra là khi pháp luật đang chú trọng bảo vệ công dân thì nhiệm vụ chính của mỗi chủ thể khi tự bảo vệ quyền của bản thân có đang được chú trọng khi hiện nay những quyền như tự do ngôn luận đang bị lợi dụng.
Đây chính là bài toán nan giải được đặt ra và cần phải được giải quyết triệt để trong giai đoạn công nghệ số hiện nay, đòi hỏi mỗi cá nhân phải có sự chủ động trong việc tự bảo vệ các giá trị đời tư của mình. Nhấn mạnh điều này, ICCPR khẳng định trong Lời nói đầu: “mỗi cá nhân trong khi có nghĩa vụ đối với người khác và đối với cộng đồng của mình, phải có trách nhiệm phấn đấu cho việc thúc đẩy và tôn trọng các quyền đã được thừa nhận trong Công ước này”. Và, “nhằm đảm bảo mục đích sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những nhu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công 18 cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”, quyền bảo vệ đời tư không hoàn toàn tuyệt đối mà bị giới hạn theo quy định tại Điều 29 Công ước này. Bên cạnh đó, pháp luật của nhiều châu lục và nhiều quốc gia cũng bắt đầu quan tâm đến nhân quyền.
Năm 1775, tổ chức bảo vệ nhân quyền được thành lập đầu tiên bởi Anthony Benezet, trong thời kỳ Hoa Kỳ từng là một trong mười ba thuộc địa của Anh. Năm 1776, Tuyên ngôn độc lập ra đời và khẳng định: “Sự thật hiển nhiên là mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo những quyền này, các chính phủ phải do dân bầu ra, quyền lực là quyền lực của nhân dân.
Nếu chính phủ nào hủy hoại những mục tiêu này thì người dân có quyền thay đổi hoặc lật đổ chính phủ và hình thành nên chính phủ mới, dựa trên những nguyên tắc và tổ chức quyền lực theo hình thức mà người dân cho là chắc chắn sẽ đảm bảo được sự an toàn và hạnh phúc của họ”. Mùa hè năm 1787, các đại biểu từ mười ba bang đầu tiên của Hoa Kỳ đã họp mặt tại Philadelphia để quyết định soạn thảo một Hiến pháp. Năm 1789, Hiến pháp Hoa Kỳ bắt đầu có hiệu lực và George Washington được bầu làm tổng thống đầu tiên. Đây được xem là bản Hiến pháp đầu tiên của thế giới, cùng với Tuyên ngôn giải phóng nô lệ do Tổng thống Lincoln ban hành, Hoa Kỳ đã xây dựng một chính phủ đầu tiên trên thế giới dựa theo mức độ bảo vệ và tôn trọng quyền của công dân.
Cho đến tận giữa thế kỷ XIX mọi người dân Mỹ đều cho rằng quyền riêng tư là quyền không được xâm phạm đến nhà riêng của họ15. Giai đoạn nội chiến 1861-1864 đã khiến quan niệm này thay đổi, quyền riêng tư từ đó được hiểu là quyền của mỗi chủ thể được tự bảo vệ đời tư cá nhân. Đến ngày 18/12/1865, Tu chính án thứ mười ba của Hiến pháp Hoa Kỳ có hiệu lực, với nội dung ghi nhận đảm bảo không tồn tại chế độ nô lệ nào trên đất nước. Năm 1920, Tu chính án thứ mười chín được thông qua, ghi nhận trên toàn Liên bang trao quyền bầu cử cho phụ 15 Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Đăng Duy, “Quyền riêng tư trên thế giới và ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 33, Số 3 (2017) 33-41 19 nữ.
Hoa Kỳ góp một vai trò quan trọng trong việc hình thành tổ chức Liên Hợp Quốc và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền trong thế kỷ XX. Hiệp ước San Jose, hay còn gọi là Công ước Nhân quyền Châu Mỹ ra đời, có hiệu lực bắt đầu tư 18/7/1978, với sự quản lý và giám sát của Ủy ban nhân quyền liên Mỹ và Tòa án nhân quyền liên Mỹ. Theo lời mở đầu, mục đích của Công ước là: “Để củng cố ở bán cầu này, một hệ thống tự do cá nhân và công bằng xã hội dựa trên sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người, trong khuôn khổ các thiết chế dân chủ”. Quyền bảo vệ bí mật đời tư được quy định tại Chương II của Hiệp ước, bao gồm quyền sống, quyền được đối xử nhân đạo, quyền được có cuộc sống riêng tư, quyền được xét xử công bằng, quyền được tự do lương tâm,… Năm 1965, Tuyên bố châu Mỹ về Quyền và trách nhiệm của con người được ban hành, theo đó Tổ chức các nước châu Mỹ cho rằng phải bảo vệ quyền con người kể cả quyền riêng tư.