phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình. Chƣơng 2: Thực trạng quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH 1.
Khái niệm, ý nghĩa quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình 1. Khái niệm quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình Phụ nữ là một nhóm xã hội đặc biệt, dễ bị tổn thƣơng. Việc ghi nhận các quyền con ngƣời cho họ, đặc biệt đảm bảo trên cơ sở tiêu chí bình đẳng là cần thiết. Khái niệm quyền của phụ nữ hiện nay chƣa có một cách hiểu thống nhất.
Quyền của phụ nữ là khái niệm dùng để chỉ các quyền con ngƣời của phụ nữ. Trên cơ sở của các nhà luật học khi tiếp cận về vấn đề này thì có thể hiểu: Quyền con ngƣời là những đặc quyền của con ngƣời đƣợc pháp luật công nhận, điều chỉnh, do cá nhân con ngƣời nắm giữ trong mối liên hệ với Nhà nƣớc và với cá nhân con ngƣời khác. Khái niệm quyền của ngƣời phụ nữ cần phải đƣợc nghiên cứu trong mối quan hệ khăng khít với quyền con ngƣời. Phụ nữ cũng nhƣ nam giới họ phải đƣợc hƣởng tất cả những quyền con ngƣời mà pháp lụât ghi nhận và bảo vệ.
Theo từ điển tiếng Việt, Quyền phụ nữ đƣợc hiểu là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho họ đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi [36]. Theo Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, quyền phụ nữ (còn gọi là quyền nữ giới hay nữ quyền), là các quyền lợi bình đẳng giới đƣợc khẳng định là dành cho phụ nữ và trẻ em gái trong nhiều xã hội trên thế giới. Các vấn đề thƣờng liên quan tới khái niệm về quyền phụ nữ gồm các quyền: quyền toàn vẹn và tự chủ thân thể; quyền bỏ phiếu (bầu cử); quyền nắm giữ 8 chức vụ công, làm việc, nhận mức lƣơng bình đẳng hoặc công bằng; quyền nắm giữ tài sản riêng; quyền tiếp nhận giáo dục, phục vụ trong quân ngũ; quyền ký kết hợp đồng pháp lý, và các quyền trong quan hệ hôn nhân. Trên thực tế khái niệm quyền phụ nữ chƣa đƣợc làm rõ trong nghiên cứu khoa học pháp lý.
Tuy nhiên, nhìn chung các nhà nghiên cứu đều tiếp cận khái niệm quyền phụ nữ dựa trên nghiên cứu về khái niệm quyền của con ngƣời. Một số định nghĩa về quyền con ngƣời do các chuyên gia, cá nhân, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau.TS Nguyễn Đăng Dung: Quyền con người là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tự nhiên, gắn bó mật thiết với con người – một động vật cao cấp có lý trí và có tình cảm làm cho con người khác với động vật khác, mà Nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ những quyền đó. Lê Thế Tài: “Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ có con người mới được hưởng, trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định” [31]. Dù có khá nhiều định nghĩa nhƣng nhìn chung quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Trong pháp luật phong kiến, khái niệm về quyền của ngƣời phụ nữ cũng đã đƣợc hình thành, tuy nhiên dƣới chế độ này, địa vị của ngƣời phụ nữ trong gia đình và xã hội thấp hơn nam giới một cách rõ rệt, sự phân biệt đối xử với phụ nữ diễn ra ở khắp mọi nơi, là trở ngại lớn cho ngƣời phụ nữ tham gia và đời sống chính trị, gia đình và xã hội. Ở giai đoạn hiện nay, khi xã hội phát triển, quyền của phụ nữ là một bộ phận tất yếu của quyền con ngƣời. Phụ nữ có đầy đủ các quyền con ngƣời nhƣ 9 quyền đƣợc sống, quyền tự do, quyền bình đẳng với nam giới. Có thể rút ra, quyền của người phụ nữ là tập hợp các quyền của con người mà người phụ nữ được hưởng, được tôn trọng, được bảo vệ và bảo đảm thực hiện bằng hệ thống các quy định của pháp luật.
Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, quyền của người phụ nữ được bảo vệ bằng các quy định của pháp luật mà chủ yếu là luật Hôn nhân và gia đình nhằm bảo đảm việc thực thi đầy đủ, có hiệu quả các quyền con người của phụ nữ trên thực tế cũng như xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền của người phụ nữ. Quyền trẻ em cũng là một nhóm quyền nằm trong nhóm quyền của con ngƣời. Trẻ em là đối tƣợng đặc biệt và dễ bị tổn thƣơng. Quyền trẻ em là những quyền con ngƣời đƣợc áp dụng dành riêng cho trẻ em, ở mỗi độ tuổi khác nhau thì trẻ em đƣợc hƣởng quyền và nghĩa vụ khác nhau.
Việc xem xét quy định và thực hiện quyền trẻ em phải xuất phát từ quan điểm của trẻ em, vì vậy quyền trẻ em là những đặc lợi mà trẻ em đƣợc hƣởng theo quy định của pháp luật. Theo Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ ngƣời chƣa thành niên bị tƣớc quyền tự do, đƣợc Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 14/12/1992 quy định: “Ngƣời chƣa thành niên là ngƣời dƣới 18 tuổi”. Nhƣ vậy khái niệm ngƣời chƣa thành niên và trẻ em đồng nhất với nhau về độ tuổi. Điều 1 của Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em cũng quy định trẻ em là ngƣời dƣới 18 tuổi.
Khái niệm “trẻ em” và độ tuổi của trẻ em quy định khác nhau, không có sự thống nhất, rõ ràng, thậm chí còn chồng chéo nhau trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam. Khái niệm ngƣời chƣa thành niên cũng đƣợc quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, tồn tại cả hai khái niệm là khái niệm trẻ em và ngƣời chƣa thành niên. Cụ thể: - Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 10 2004 quy định thì: “Trẻ em là công dân Việt Nam dƣới 16 tuổi”. Nhƣ vậy, quy định về tuổi trẻ em trong Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của Việt Nam đã có độ vênh tới 2 tuổi so với Công ƣớc Quốc tế về Quyền trẻ em.
- Theo Bộ luật dân sự năm 2015 thì: Ngƣời từ đủ mƣời tám tuổi trở lên là ngƣời thành niên. Ngƣời chƣa đủ mƣời tám tuổi là ngƣời chƣa thành niên. Với quy định này, có thể hiểu rằng, ngƣời chƣa đủ mƣời tám tuổi là ngƣời chƣa trƣởng thành, tức cũng có nghĩa là ngƣời chƣa đủ 18 tuổi vẫn còn là trẻ em. - Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 cũng xác định đối tƣợng xử phạt hành chính phải từ đủ 14 tuổi trở lên, cụ thể là: “Ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính”, quy định này đồng nghĩa với việc coi trẻ em là 14 thay vì 16 nhƣ quy định chung.
- Luật Lao động năm 2012 quy định về ngƣời lao động nhƣ sau: Ngƣời lao động là ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, đƣợc trả lƣơng và chịu sự quản lý, điều hành của ngƣời sử dụng lao động”. Theo quy định trên thì ngƣời lao động có thể là ngƣời chƣa thành niên, nói cách khác là có thể vẫn còn là trẻ em. - Điều 1, Luật Trẻ em năm 2016 quy định Trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi. Nhƣ vậy, trong pháp luật Việt Nam tồn tại cả hai khái niệm.
Đó là khái niệm trẻ em và ngƣời chƣa thành niên. Khái niệm ngƣời chƣa thành niên rộng hơn, bao gồm cả những ngƣời chƣa đủ 16 tuổi (trẻ em); còn những ngƣời độ tuổi từ đủ 16 đến dƣới 18 tuổi là chỉ những ngƣời chƣa thành niên, mà không còn là trẻ em nữa. Theo Wikipedia định nghĩa, quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để đƣợc sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn. Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là ngƣời tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của ngƣời lớn, mà các em là những thành viên tham gia tích cực vào quá trình 11 phát triển.
Bao gồm quyền đƣợc bảo vệ và chăm sóc đặc biệt mà mọi ngƣời, mọi gia đình dành cho trẻ em và cả quyền đƣợc cha mẹ ruột yêu thƣơng, cũng nhƣ những nhu cầu căn bản: đƣợc ăn uống, đƣợc giáo dục phổ quát do nhà nƣớc trả tiền, đƣợc chăm sóc sức khoẻ và các điều luật hình sự thích hợp với độ tuổi và sự phát triển của trẻ em. Nhƣ vậy có thể hiểu, giống nhƣ quyền phụ nữ, quyền trẻ em là khái niệm để chỉ các quyền con người của trẻ em, là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện. Trẻ em là tƣơng lai của đất nƣớc, cũng là đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng nhất, vì lẽ đó pháp luật Việt Nam quy định tƣơng đối cụ thể về quyền của trẻ em, cụ thể trong Luật trẻ em thì trẻ em có 25 quyền: - Điều 12 quy định về Quyền sống: bao gồm quyền của trẻ em đƣợc sống và đƣợc đáp ứng những nhu cầu để tồn tại, nhƣ: mức sống đủ, có nơi ở, dinh dƣỡng và chăm sóc sức khoẻ. - Điều 13 quy định về Quyền đƣợc khai sinh và có quốc tịch: Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân, mọi hồ sơ giấy tờ của mỗi cá nhân sau này mà có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quê quán, cha mẹ, con phải phù hợp với giấy khai sinh.