Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền của đương sự trong giám đốc thẩm, tái thẩm vụ việc dân sự. 9 - Chương 2: Thực trạng quyền của đương sự trong giám đốc thẩm, tái thẩm vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân tối cao - Chương 3: Giải pháp đảm bảo thực thiện hiệu quả quyền của đương sự trong giám đốc thẩm, tái thẩm vụ việc dân sự. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM VỤ VIỆC DÂN SỰ. Khái niệm vụ việc dân sự 1.
Khái niệm việc dân sự Khái niệm “vụ việc dân sự” lần đầu tiên được ghi nhận trong BLTTDS năm 2004 và được kế thừa tại BLTTDS năm 2015. Theo quy định tại Điều 1 BLTTDS năm 2015 về phạm vi và nhiệm vụ của BLTTDS: “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự);…”. Để làm rõ khái niệm “vụ việc dân sự”, trước tiên chúng ta cần làm rõ khái niệm “việc dân sự” và “ vụ án dân sự” [16]. Theo quy định tại Điều 361 BLTTDS năm 2015 thì: “Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” [17].
Như vậy, trong “ việc dân sự” không có yếu tố tranh chấp giữa các đương sự về quyền và lợi ích trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Việc phân biệt được vấn đề trên có ý nghĩa trong việc xác định trình tự, thủ tục giải quyết đối với từng vụ, việc cụ thể. Do yếu tố không có tranh chấp về quyền và lợi ích nên việc dân sự được giải 11 quyết theo trình tự, thủ tục đơn giản hơn so với vụ án dân sự, giúp giảm bớt gánh nặng cho tòa án cũng như sự phiền hà cho đương sự. Việc dân sự không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ nên có những đặc trưng khác biệt so với thủ tục giải quyết vụ án dân sự, cụ thể: + Thời hạn giải quyết việc dân sự ngắn hơn so với thời hạn giải quyết vụ án dân sự, theo đó, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu.
Trường hợp đơn yêu cầu chưa ghi đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 362 của BLTTDS thì Thẩm phán yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Thủ tục sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 193 của BLTTDS. Trường hợp người yêu cầu thực hiện đầy đủ yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì Thẩm phán tiến hành thủ tục thụ lý việc dân sự. Trường hợp xét thấy đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý thì Thẩm phán thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí; Tòa án thụ lý đơn yêu cầu khi người yêu cầu nộp cho Tòa án biên lai thu tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự; Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu; Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, trừ trường hợp BLTTDS có quy định khác; Tòa án phải mở phiên họp để giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
+ Thành phần giải quyết việc dân sự không có Hội thẩm tham gia, chỉ 12 có Thẩm phán, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; Người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp. + Tòa án mở phiên họp để giải quyết việc dân sự chứ không mở phiên tòa như trình tự tố tụng đối với việc giải quyết vụ án dân sự. + Kết quả giải quyết việc dân sự được tòa án ban hành dưới hình thức “ Quyết định”, chứ không phải “ Bản án” trong vụ án dân sự.
+ Thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm quyết định giải quyết việc dân sự được quy định 7 ngày,ngắn hơn so với 15 ngày đối với thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án trong vụ án dân sự. Từ những nội dung, đặc điểm nêu trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm việc dân sự như sau: “Việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”.2 Khái niệm vụ án dân sự Vụ án là một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật có tính chất hình sự hoặc có tính chất dân sự (tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật) được đưa ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết. Khái niệm vụ án dân sự là một khái niệm hẹp hơn so với khái niệm vụ án. Theo quy định tại Điều 1.
BLTTDS về phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của BLTTDS, thì BLTTDS quy định trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (vụ án dân sự). Như vậy, vụ án dân sự là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, phát sinh trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao 13 động, được các chủ thể khởi kiện ra Tòa án để giải quyết. Ở vụ án dân sự thì luôn có tranh chấp xảy ra và tính chất của nó là giải quyết về các tranh chấp giữa cơ quan, tổ chức và cá nhân với nhau. Tòa án giải quyết trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền và buộc người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ [17].
Chủ thể của vụ án dân sự là nguyên đơn và bị đơn, bao gồm những cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức tham gia vào các giao dịch dân sự hay có những quyền và lợi ích dân sự liên quan đang bị xâm phạm, tranh chấp hoặc có thể sẽ bị xâm phạm, tranh chấp cần giải quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đó gọi là đương sự trong vụ án dân sự. Ngoài ra, trong tố tụng dân sự còn có một thành phần quan trọng tham gia vào việc giải quyết vụ án dân sự, đó là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, bao gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan thi hành án dân sự.
Người tiến hành tố tụng là người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Ví dụ như : Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký tòa án, kiểm sát viên, Viện trưởng VKS, Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên…. Bên cạnh đó còn có những người tham gia tố tụng khác, như: người đại diện cho đương sự, có thể là người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo uỷ quyền hoặc người đại diện do Tòa án chỉ định; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng có đủ các điều kiện do pháp luật quy định được đương sự yêu cầu tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; người làm chứng là người tham gia tố tụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự do biết được các tình tiết, sự kiện đó; người giám định là người tham gia tố tụng sử 14 dụng kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự; người phiên dịch là người tham gia tố tụng dịch ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại… Vụ án dân sự được giải quyết theo trình tự, thủ tục của BLTTDS, bắt đầu bằng việc khởi kiện của đương sự và kết thúc bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm vụ án dân sự như sau:“ Vụ án dân sự là những tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động giữa các chủ thể, được các chủ thể đó khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền để giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của BLTTDS và được Tòa án thụ lý, giải quyết”.