Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài pháp luật về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam Chương 2: Một số vấn đề lý luận về quyền bí mật đời tư Chương 3: Thực trạng pháp luật về quyền bí mật đời tư và thực tiễn bảo vệ quyền bí mật đời tư ở Việt Nam Chương 4: Phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về quyền bí mật đời tư 10 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ Quyền bí mật đời tư là một quyền nhân thân quan trọng của cá nhân và là cũng là một quyền dân sự. Đưa ra khái niệm bí mật đời tư cùng những đặc điểm của bí mật đời tư có ý nghĩa rất lớn trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền của cá nhân trong lĩnh vực khá nhạy cảm này, đồng thời đây còn là cơ sở để Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền của cá nhân đối với bí mật đời tư khi quyền đó bị xâm phạm. Khái niệm quyền bí mật đời tư Cho đến nay, mặc dù “bí mật đời tư” được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật cũng như các văn bản áp dụng, hướng dẫn thi hành pháp luật của Nhà nước ta như Hiến pháp, BLDS, Luật báo chí, Luật Xuất bản, Luật Viễn thông, một số văn bản của Bộ Y tế.
Tuy nhiên trên thực tế vẫn chưa hề có một quy định rõ ràng như thế nào là bí mật đời tư mà chỉ ghi nhận về quyền bí mật đời tư, coi đó là quyền mà các chủ thể có liên quan, được xác định phải tôn trọng. Đây cũng chính là một trong những khó khăn khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến bí mật đời tư. Bởi lẽ quyền bí mật đời tư được xây dựng trên khái niệm bí mật đời tư, muốn xác định được phạm vi của quyền bí mật đời tư đòi hỏi chúng ta phải xác định được khái niệm về bí mật đời tư. Vậy bí mật đời tư là gì? Có rất nhiều lập luận, căn cứ được các nhà nghiên cứu trong nước đưa ra khi đề cập đến khái niệm bí mật đời tư, tác giả xin trích dẫn một số quan điểm xoay quanh vấn đề này như sau: Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt thì bí mật được giải thích là “giữ kín, không để lộ ra, không công khai.
155] Một cách giải thích khác thì cho rằng: “Bí mật là thông tin cần che giấu, chỉ để một số nhất định những người có liên quan được biết. Những thông tin được xác định là bí mật chỉ mang ý nghĩa tương đối. Dưới góc độ này hay đối với một bên thì nó có thể cần phải che đậy, giữ kín, nhưng dưới góc độ khác, đối với bên khác nó có thể 11 không cần che giấu. Tính bí mật có được do những gì chứa đựng trong thông tin đó có liên quan đến một điều gì đó mà nếu để người không có nhiệm vụ biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu.
Bí mật thông thường được chia làm ba cấp độ, từ thấp đến cao là: Mật; Tối mật; Tuyệt mật” [2]. Như vậy, theo sự giải thích này thì bí mật được xác định bởi các yếu tố sau: 1. Bí mật là những “thông tin”; 2. Những “thông tin” này được che giấu bằng những biện pháp, cách thức khác nhau; 3.
Những “thông tin” được coi là bí mật này nếu để người không có nhiệm vụ biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu thông tin. Tuy nhiên, quan điểm này cũng cho rằng những “thông tin” được coi là bí mật cũng chỉ mang tính tương đối. Một số người làm công tác pháp luật lại cho là: “Bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản. Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết.
Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai. “Bí mật đời tư”có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó. Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín,…”. [2] Như vậy, quan điểm này cũng chỉ ra bí mật đời tư là những thông tin gắn liền với cá nhân, chỉ có thể mình họ hoặc một số người hạn chế biết được.
Tuy nhiên, nếu hiểu như vậy thì cũng chưa bao quát được nội hàm của khái niệm bí mật đời tư, bởi lẽ nếu hiểu bí mật đời tư là những thông tin chưa từng công bố cho bất kỳ ai thì cũng không đúng. Có trường hợp thông tin này đã được công bố nhưng bản thân người tiếp nhận thông tin phải có nghĩa vụ bảo mật thông tin thì thông tin đó vẫn được coi là bí mật đời tư. Trong một Công trình Nghiên cứu khoa học cấp Bộ của TAND tối cao, PGS.TS Nguyễn Văn Luật đã khẳng định: “…bí mật đời tư của cá nhân được hiểu trên hai phương diện: 1. Bí mật về đời sống tình cảm,tinh thần: Bí mật về đời sống tình cảm của cá nhân thể hiện tính chất đặc biệt riêng tư của cá nhân đó.
Điều luật cấm công khai cho mọi người biết các mối quan hệ thực tại hoặc mang tính chất hình tượng mà cá nhân đó vốn có. Bí mật về 12 đời sống nghề nghiệp, vật chất của cá nhân thể hiện là những bí mật về hoạt động nghề nghiệp; tình trạng vật chất gắn liền với hoạt động đó.167] Theo cách diễn giải này thì khái niệm bí mật đời tư được bao quát trên các phương diện: “tình cảm, tinh thần” và “nghề nghiệp, vật chất”. Như vậy khái niệm bí mật đời tư có thể được khái quát theo hướng liệt kê mà không được khái quát theo hướng bao quát, tuy nhiên sẽ có những trường hợp việc liệt kê sẽ không đầy đủ. Có thể thấy rằng, mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng hầu hết các các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng bí mật đời tư là những thông tin liên quan và gắn liền với chính chủ thể đó, đó là những nội dung mang tính chất thầm kín cá nhân và họ không muốn công khai cho người khác biết.
Đó có thể là các thông tin liên quan đến các yếu tố như tinh thần, vật chất, các quan hệ xã hội. Quan điểm của tác giả đồng ý với cách nhìn nhận khái niệm “bí mật đời tư” như trên. Bởi lẽ, “Bí mật đời tư” là một cụm từ Hán – Việt, có nguồn gốc từ chữ Hán và được Việt hóa, do vậy để xây dựng khái niệm “bí mật đời tư” phải xác định được hai khái niệm cũng như sự liên kết của hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và khái niệm “đời tư”. “Bí mật” được hiểu là giữ kín, không để lộ ra, không công khai.
Tính “bí mật” này có thể được xác định theo các tiêu chí cụ thể như: Bản thân thông tin đó đã mang tính bí mật. Việc xác định thông tin mang tính bí mật có thể dựa vào bản chất của thông tin, có thể xác định theo qui định của pháp luật (thư tín, điện thoại, tình trạng bệnh tật… – những thông tin này đã có văn bản pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành xác định rõ đó là bí mật mà không được tiết lộ hoặc xâm phạm). Người nắm giữ thông tin có thể đã áp dụng mọi biện pháp để bảo mật như khoá, cài đặt mã số bảo vệ, hoặc áp dụng mọi biện pháp bảo vệ khác. Giữa chủ sở hữu thông tin bí mật với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đã có sự thoả thuận về nghĩa vụ giữ bí mật.
Ví dụ: Anh A đến nhờ Văn phòng luật sư X tư vấn pháp luật liên quan đến việc ly hôn của anh. Giữa A và Văn phòng luật sư X có ký hợp đồng dịch vụ trong việc tư vấn, theo hợp đồng này thì Văn phòng có nghĩa vụ giữ bí mật các thông tin của A khi A cung cấp cho Văn phòng luật sư X. 13 Tuy nhiên, chúng ta sẽ không coi là “bí mật” nếu những thông tin đó xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Ví dụ: thông tin liên quan đến hành vi phạm tội, chuẩn bị phạm tội). Trong trường hợp này việc tiết lộ thông tin sẽ không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư.
Mặt khác, khái niệm “bí mật đời tư” chỉ có ý nghĩa tương đối. Bởi vì, cùng một nội dung vụ việc có tính chất như nhau, đối với người này có thể là bí mật nhưng đối với người khác chỉ là một thông tin bình thường, có thể công bố rộng rãi. Đối với mỗi người thì việc xác định như thế nào là bí mật đời tư chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: quan điểm, quan niệm, thói quen sống, làm việc, phong tục tập quán, các qui định của pháp luật có liên quan. “Đời” là đời sống, cuộc sống hàng ngày, “tư” có nghĩa là riêng, việc riêng, của riêng, một cách giải thích khác của cuốn Đại từ điển tiếng Việt thì “Tư: Riêng, của cá nhân; trái với công (chung), đời tư, riêng tư.” Qua phân tích các yếu tố liên quan đến bí mật đời tư, chúng ta có thể đưa ra khái niệm bí mật đời tư như sau: “Bí mật đời tư là những thông tin về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận.” Quyền bí mật đời tư là quyền nhân thân bất khả xâm phạm của cá nhân.
Về cơ bản có thể hiểu rằng: “Quyền bí mật đời tư của cá nhân là quyền được bảo vệ về bí mật đời tư, nói cách khác không ai được quyền xâm phạm đến bí mật đời tư của cá nhân khi chưa được phép”.