CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN BỀ MẶT TRONG TRƯỜNG HỢP SỞ HỮU ĐỐI VỚI CĂN HỘ CHUNG CƯ 1. Khái niệm và đặc điểm quyền bề mặt 1. Khái niệm Theo nhiều nghiên cứu, do lịch sử mà pháp luật Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật Cộng hòa Pháp – một bộ phận tiêu biểu của Hệ thống luật Châu Âu lục địa, từ đó ta có thể thấy một phần ảnh hưởng tất yếu của luật La Mã đối với pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay. Trong giai đoạn này, các quy định về tư pháp là các quy phạm điều chỉnh các quan hệ của cá nhân với cá nhân trong các quan hệ về nhân thân, quan hệ về tài sản.
Luật tư pháp La Mã điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội về tài sản, quyền được bảo vệ khi có hành vi xâm phạm đến những lợi ích vật chất của công dân. Luật dân sự La Mã điều chỉnh về Quan hệ tài sản gồm: Quan hệ vật quyền (quyền đối vật); Quan hệ trái quyền và Quan hệ thừa kế. Thuật ngữ “Quyền bề mặt” (Superficies) bắt nguồn từ Luật La Mã cổ đại trước công nguyên3. Luật La Mã cho rằng quyền bề mặt gắn với chế độ tư hữu về đất đai và mang nội dung là quyền sử dụng bề mặt đất để tạo lập các tài sản gắn liền với đất.
Căn cứ để xác lập quyền bề mặt là từ thỏa thuận và trả chi phí “thuê đất” với chủ sở hữu thửa đất đó4. Tại một số quốc gia hiện nay, điển hình như Pháp, Đức, các nước Tây Âu và thậm chí ở nước Châu Á là Thái Lan… thì chế định quyền bề mặt là quyền sở hữu đối với các tài sản gắn liền với đất của người không có quyền 3 Nguyễn Thị Nhung. Tìm hiểu về quyền bề mặt theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.vn/ArticleDetail/1/0/4144/1056/Tin-bai-Tim-hieu-ve-Quyen-be-mat-theo- quy. 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình luật La Mã, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội.
9 sở hữu đất5. Vì vậy, chủ thể có tài sản thuộc sở hữu quyền bề mặt có quyền xác lập quyền bề mặt với những BĐS hữu hình. Bề mặt ở đây được hiểu bao gồm phạm vi trên mặt đất và cả trong lòng đất. Trong BLDS Nhật Bản, Quyền bề mặt áp dụng vấn đề công trình xây dựng bao gồm nhà ở, cầu cống, các công trình trên mặt đất và cả dưới lòng đất [22, tr.
Ở Hoa Kỳ, Luật về tài sản, giữa các tiểu bang có quy định khác biệt nhưng có những điểm chung như sở hữu được phân chia thành sở hữu tuyệt đối (absolutely ownership) và sở hữu hạn chế (qualified ownership) - BLDS California định nghĩa: "Sở hữu một vật là quyền của một hoặc nhiều người chiếm hữu và sử dụng nó với quyền loại trừ những người khác”. Trên thực tế, chỉ khi nào các quyền này chấm dứt thì chủ sở hữu đất mới thực sự được hưởng thụ các nội dung của quyền sở hữu. Ngày nay, pháp luật các quốc gia ghi nhận chế định này đã được mở rộng hơn. Thứ nhất, người có quyền bề mặt không còn giới hạn trong mục đích tạo lập công trình mà có thể là tạo lập bất cứ loại tài sản nào gắn liền với đất; Thứ hai, quyền bề mặt cũng đã được mở rộng phạm vi thực hiện quyền đối với phần không gian nằm trong lòng đất.
Nếu như ở pháp luật La Mã, quyền bề mặt chỉ là xây dựng công trình trên mặt đất thì đến nay, quyền bề mặt được mở rộng hơn về phạm vi, không chỉ được sử dụng mặt đất mà còn được sử dụng “cả phần không gian trên mặt đất và phần lòng đất”. Tại Việt Nam, từ khi Hiến pháp năm 1980 ra đời cho đến nay đã quy định rất rõ đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên Nhà nước (là đại diện chủ sở hữu) trao QSDĐ cho các cơ quan, tổ chức, các hộ gia đình, cá nhân (là NSDĐ - Điều 5 Luật Đất đai 2013) thông qua các hình thức như: giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật, hoặc nhận tặng cho, nhận 5 Điều 1410 đến 1416 BLDS Thái Lan. 10 chuyển nhượng,… Theo đó, Nhà nước công nhận QSDĐ cho các chủ thể nêu trên và lúc này QSDĐ này được xem là tài sản. Đồng thời, Nhà nước cũng trao cho NSDĐ các quyền được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn QSDĐ.
Trường hợp NSDĐ không có nhu cầu sử dụng đất thì có thể chuyển nhượng cho người khác hoặc cho thuê QSDĐ …theo luật định. Người thuê QSDĐ có các quyền của người sử dụng đất trong thời gian thuê là các quyền khai thác mặt đất, sử dụng không gian cũng như lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất đó. Qua đó, có thể nói, chủ sở hữu đất đai là toàn dân, còn người có QSDĐ lại là một chủ thể khác. Trước đây, BLDS 2005 quy định rất hạn chế, chưa rõ ràng quyền khác đối với tài sản.
Quá trình hình thành quyền bề mặt, cụ thể: Luật Đất đai năm 1987, NSDĐ chỉ có quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với đất mà không có quyền tài sản đối với QSDĐ. Đến Luật Đất đai năm 1998 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1993 tuy đã có ghi nhận tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được thuê đất trả tiền thuê hàng năm6 và công nhận quyền sở hữu đối của người thuê với tài sản do người thuê tạo ra nhưng QSDĐ của người thuê vẫn không có giá trị chuyển nhượng. Luật Đất Đai năm 2003, 2013 cũng quy định nếu trường hợp thuê đất mà có trả tiền thuê hàng năm thì người thuê có quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với đất7. Luật Đất Đai 2013 cũng quy định: người sử dụng đất có nguồn gốc từ việc giao đất có thu tiền sử dụng đất có quyền cho người khác thuê quyền sử dụng đất.
6 Điều 78a, 78d Luật Đất đai năm 1998. 7 Khoản 1 Điều 175 và khoản 2 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013. 11 Ngoài ra, Luật Đất Đai năm 2013 quy định người nhận chuyển quyền sở hữu BĐS có quyền tiếp tục sử dụng đất8 nhằm giải quyết được tình trạng người mua BĐS cần có quyền sử dụng đối với diện tích đất có BĐS nhưng người bán BĐS lại không có quyền cho phép người mua BĐS sử dụng đất. Tuy nhiên, cũng mới chỉ điều chỉnh quan hệ của người mua BĐS từ chủ sở hữu BĐS là NSDĐ nhưng không có quyền cho phép người khác sử dụng đất nhưng chưa điều chỉnh quan hệ sử dụng đất của người nhận chuyển quyền sở hữu BĐS từ chủ sở hữu BĐS nằm trên đất thuộc QSDĐ của người khác.9 Chính vì sự điều chỉnh quy định không đầy đủ này đã gây khó khăn cho chủ sở hữu BĐS không phải là NSDĐ khi thực hiện giao dịch chuyển quyền sở hữu BĐS, thậm chí người đó không thực hiện được giao dịch này nếu NSDĐ từ chối cho người nhận chuyển quyền sở hữu BĐS sử dụng đất.
Trước khi BLDS 2015 có hiệu lực thi hành, việc áp dụng pháp luật đã thể hiện rõ không phải ai cũng có tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu của chính mình. Chính những quy định liên quan đến quyền của NSDĐ khiến cho việc khai thác giá trị của quyền sử dụng trong nhiều trường hợp không triệt để, dẫn đến việc những giá trị thực tế của quyền sử dụng đất bị lãng phí10. Do đó,quyền bề mặt đã chính thức được ghi nhận lần đầu tiên từ Điều 267 đến Điều 273 BLDS 2015 mặc dù trước đây BLDS năm 1995 và năm 2005 đều chưa quy định quyền này. Và các quyền này được gọi chung là những quyền khác đối với tài sản (vật quyền hạn chế)11.
Hay nói cách khác, 8 Xem điểm c khoản 1 Điều 175; điểm e khoản 2 Điều 179; điểm b khoản 2 Điều 183 Luật Đất đai 2013. 9 Châu Thị Khánh Vân, 2015. Quyền bề mặt trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi). Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13, 293/kỳ 1, <http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.
10 Trần Thị Huệ. Một số khía cạnh pháp lý về quyền bề mặt trong quy định của Bộ luật Dân sự.com/dan-su/mot-so-khia-canh-phap-ly-ve-quyen-be-mat-trong-quy-dinh-cua-blds-2015> [Truy cập ngày 28/8/2021]. 11 Xem tiếp phần 1. Đặc điểm của quyền bề mặt 12 “quyền sở hữu chi phí thấp của vật quyền” lúc này thật sự là đáp án hiệu quả nhằm thỏa mãn nhu cầu của cả người có hay không có tài sản, tạo cơ sở cho người không phải là NSDĐ khai thác tối đa lợi ích trên cùng một tài sản.
Điều 267 BLDS 2015 đã quy định: “quyền bề mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác”. Nói cách khác thì quyền bề mặt là quyền của chủ thể được sử dụng mặt đất, khoảng không trên mặt đất và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về người khác. Thứ nhất, chủ thể quyền bề mặt (Điều 267): Có thể hiểu một cách đơn giản, chủ thể quyền bề mặt và NSDĐ là hai chủ thể khác nhau. Theo đó, một người có QSDĐ (NSDĐ), còn người được NSDĐ trao quyền bề mặt và quyền bề mặt chấm dứt khi hai chủ thể này là một12.
Chủ thể có quyền bề mặt được quy định rộng hơn chủ thể QSDĐ13. Sự quy định rộng hơn về mặt chủ thể này sẽ giúp một số chủ thể không được cấp QSDĐ nhưng vẫn có thể khai thác và sử dụng đất thông qua quyền bề mặt như chủ sở hữu. Ví dụ như: NSDĐ xây dựng nhà, sau đó tặng cho nhà cho một người, tặng cho quyền sử dụng đất cho người khác; chủ đầu tư nhà chung cư bán/tặng cho một số căn hộ cho một số người khác và giữ lại QSDĐ của mình…. Thứ hai, quyền của chủ thể quyền bề mặt (khoản 1, Điều 271): Theo quy định, người có QSDĐ được sử dụng “không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng” trong khuôn viên đất thuộc QSDĐ của mình (khoản 1 Điều 12 Khoản 2 Điều 272 BLDS năm 2015.
13 Theo Điều 5 Luật Đất đai 2013, chủ thể quyền sử dụng đất gồm 07 nhóm chủ thể được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền hoặc chuyển quyền gồm: Các tổ chức trong nước, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam, trực tiếp tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai, có quyền và nghĩa vụ nhất định.