Đặt vấn đề Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) hay còn gọi là Sâm Khu Năm, sâm trúc, củ ngải rọm con hay một số nơi gọi với tên cây thuốc giấu,… là loại sâm quý đƣợc tìm thấy tại miền Trung Trung bộ Việt Nam. Đƣợc biết đến trên thế giới với tên gọi Vietnamese ginseng, thuộc họ Cam tùng (Araliaceae). Sâm Ngọc Linh là loại nhân sâm thứ 20 đƣợc tìm thấy trên thế giới. Dù mới chỉ đƣợc biết đến từ năm 1973, nhƣng qua nghiên cứu các nhà khoa học đã nhận thấy sâm Ngọc Linh không chỉ có tác dụng dƣợc lý đặc trƣng của chi Nhân sâm mà còn có những tác dụng điển hình nhƣ chống stress, chống trầm cảm, giảm lo âu, kích thích hệ miễn dịch, kháng các độc tố gây hại thế bào , tác dụng lên sự chống oxy hoá ,…Nhóm chất quyết định nhất đến tác dụng dƣợc lý của loài sâm này là các saponin triterpenoic mà đại diện chính là MR2, G-Rb1 và G-Rg1 (Trần Công Luận, 2003).
Sâm Ngọc Linh là một trong những loài sâm có hàm lƣợng saponin khung dammaran cao nhất (khoảng 12 – 15%) và lƣợng saponin triterpen nhiều nhất so với các loài khác của chi Panax trên thế giới (Nguyễn Thƣợng Dong và cs. Với những đặc điểm đó, sâm Ngọc Linh không chỉ là loài sâm quý của Việt Nam mà còn là loài sâm quý của cả thế giới. Việc nhân giống sâm Ngọc Linh gặp nhiều khó khăn do loài sâm này chỉ trồng đƣợc ở khu vực quanh đỉnh núi Ngọc Linh thuộc 2 tỉnh Quảng Nam và Kon Tum, thời gian nuôi trồng kéo dài từ 6 đến 7 năm củ mới đủ tích luỹ hoạt chất để thu hoạch. Nhân giống hữu tính theo cách thông thƣờng (gieo hạt) không cho kết quả cao vì nhiều lý do: khó thu nhận hạt, hạt khi gieo nằm trong đất một thời gian mới nảy mầm, vì vậy hạt bị các loài động vật, côn trùng gặm nhấm ăn…; ngoài ra, tỷ lệ nảy mầm từ hạt chỉ đạt khoảng 30 – 40%.
Theo số liệu điều tra mới nhất, sâm Ngọc Linh đã bị khai thác quá mức và dƣờng nhƣ không còn thấy trong tự nhiên, chúng đang nằm trong danh mục 250 loài quý hiếm cần 1 đƣợc bảo vệ. Do đó, yêu cầu cấp thiết nhất là tìm đƣợc kỹ thuật mới giúp nhân giống nhanh và đem lại nguồn sinh khối có hiệu quả từ cây dƣợc liệu này. Các nghiên cứu công bố trƣớc đây đã nghiên cứu thành công và xây dựng đƣợc quy trình nhân giống vô tính cây sâm Ngọc Linh ( Dƣơng Tấn Nhựt,2010; Bùi Văn Thế Vinh,2014; Vũ Thị Hiền, 2018;…) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề trong quy trình nhân nuôi cấy sâm Ngọc Linh nhƣ: tỷ lệ phôi bật mầm thấp, chƣa có nhiều báo cáo về nhân phôi sơ cấp cho tỷ lệ cao, cây con tạo thành yếu, chƣa có nhiều kết quả nghiện cứu về kỹ thuật ra cây và trồng cây con cấy mô…Vì vậy cần có các nghiên cứu tiếp theo để khắc phục tình trạng này. Chính vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống và kỹ thuật ra cây sâm Ngọc Linh (Panax Vietnamensis Ha et Grushv) nuôi cấy mô” đƣợc tiến hành với mục đích nghiên cứu ảnh hƣởng của một số chất điều tiết sinh trƣởng đến sự sinh trƣởng và phát triển của phôi trong nuôi cấy in vitro cây sâm Ngọc Linh.
Đồng thời tiến hành thử nghiệm ra cây con sâm Ngọc Linh nuôi cấy mô trong nhà vi khí hậu nhằm đánh khả năng sống sót, sinh trƣởng và phát triển của cây con sâm Ngọc Linh. Từ đó, góp phần hoàn thiện qui trình nhân giống, góp phần tạo nguồn giống tốt có chất lƣợng phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển Sâm Ngọc Linh. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích nghiên cứu Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của các chất điều tiết sinh trƣởng và một số chất hữu cơ đến sự sinh trƣởng và phát triển của phôi đặc biệt là khả năng bật mầm và nhân phôi sơ cấp trong nuôi cấy in vitro cây sâm Ngọc Linh.
Xác định đƣợc ảnh hƣởng của giá thể, biện pháp giữ ẩm cho cây đến tỷ lệ sống của sâm cấy mô khi tiến hành ra cây trong nhà trồng có vi khí hậu. Yêu cầu nghiên cứu Xác định đƣợc ảnh hƣởng một số chất điều tiết sinh trƣởng ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng và phát triển của phôi. 2 Xác định đƣợc ảnh hƣởng của một số chất hữu cơ đến đến sự sinh trƣởng và phát triển của phôi. Xác định đƣợc ảnh hƣởng của PEG và ABA đến sự sinh trƣởng và phát triển của phôi.
Xác định đƣợc tỷ lệ sống và khả năng sinh trƣởng của sâm Ngọc Linh cấy mô khi ra cây trên các loại giá thể, thời gian giữ ẩm khác nhau trong nhà vi khí hậu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu sẽ là dữ liệu khoa học về ảnh hƣởng của các chất điều tiết sinh trƣởng đến sự sinh trƣởng và phát triển của phôi đơn trong nuôi cấy in vitro cây sâm Ngọc Linh. Kết quả nghiên cứu cũng là những thông tin mới mẻ về ảnh hƣởng của giá thể và điều kiện giữ ẩm đến tỷ lệ sống, sự sinh trƣởng của cây cấy mô khi trồng trong nhà điều khiển vi khí hậu.
Ý nghĩa thực tiễn Góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống sâm Ngọc Linh nhằm tìm ra môi trƣờng thích hợp nhất để tăng hiệu quả nhân nuôi cấy sâm Ngọc Linh đặc biệt là khả năng bật mầm và nhân phôi sơ cấp. Bƣớc đầu đề xuất dƣợc kỹ thuật ra cây sâm Ngọc Linh cấy mô trong nhà trồng có vi khí hậu. 3 PHẦN II TỔNG QUAN 2. Khái quát về cây sâm Ngọc Linh Sâm Ngọc Linh, có tên khoa học là Panax vietnamensis Ha et Grush.
Đƣợc xác định là cùng chi với cây nhân sâm (chi Panax L.), họ Cam Tùng (Araliaceae), là loại sâm quý đƣợc tìm thấy tại miền Trung Trung Bộ Việt Nam, mọc tập trung ở các huyện miền núi Ngọc Linh thuộc huyện Đăk Tô và huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum, huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam. Ngoài núis Ngọc Linh, sâm còn phân bố tại núi Ngọc Lum Heo thuộc xã Phƣớc Lộc, huyện Phƣớc Sơn và còn có thể có ở đỉnh Ngọc Am tỉnh Quảng Nam theo những kết quả điều tra mới nhất.100m, sâm Ngọc Linh mọc dày thành đám dƣới tán rừng dọc theo các suối ẩm trên đất nhiều mùn. Sâm Ngọc Linh cũng là loại nhân sâm thứ 20 đƣợc tìm thấy trên thế giới. Theo kết quả nghiên cứu từ năm 1978 của Bộ Y tế Việt Nam, phần thân rễ của cây sâm Ngọc Linh Việt Nam chứa 26 hợp chất saponin có cấu trúc hóa học đã biết và 24 saponin có cấu trúc mới không có trong các loại sâm khác, trong khi sâm Triều Tiên có khoảng 25 saponin.
Những kết quả nghiên cứu, phân lập thành phần hóa học mới nhất đƣợc công bố còn kéo dài danh sách saponin của sâm Ngọc Linh hơn nữa, lên tổng cộng 52 loại (Dung et al. Nhƣ vậy, sâm Việt Nam là một trong những loại sâm có hàm lƣợng saponin nhiều nhất, tƣơng tự một số cây sâm quý đã từng đƣợc nghiên cứu sử dụng từ lâu trên thế giới. Hợp chất hóa học đa dạng và tác dụng thực tiễn đối với sức khỏe của con ngƣời khiến sâm Ngọc Linh hiện nay đƣợc bán trên thị trƣờng với giá càng ngày càng cao, thậm chí còn cao hơn sâm Triều Tiên nhiều lần (Vũ Thị Hiền, 2018). Nguồn gốc và lịch sử phát triển Trƣớc khi có sự phát hiện từ phía các nhà khoa học, sâm Ngọc Linh đã đƣợc các đồng bào dân tộc thiểu số Trung Trung bộ Việt Nam, đặc biệt là dân tộc Xê Đăng, sử dụng nhƣ một loại củ rừng, mà họ gọi là củ ngải rọm con hay cây thuốc giấu, chữa nhiều loại bệnh theo các phƣơng thuốc cổ truyền.
Dựa trên những thông tin lƣu truyền trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Quảng Nam, Kon Tum về một loại củ quý hiếm trên núi Ngọc Linh có tác dụng tốt đối với sức khỏe con ngƣời, và do nhu cầu của kháng chiến đã khiến ngành dƣợc khu Trung Trung Bộ quyết phải tìm ra cây sâm chi Panax tại miền Trung, mặc dù trƣớc đó nhiều nhà khoa học cho rằng chi Panax chỉ có ở miền Bắc. Năm 1973, khu Y tế Trung Trung Bộ cử một tổ 4 cán bộ do dƣợc sĩ Đào Kim Long làm trƣởng đoàn, kỹ sƣ Nguyễn Bá Hoạt, dƣợc sĩ Nguyễn Châu Giang, dƣợc sĩ Trần Thanh Dân là thành viên, đi điều tra phát hiện cây sâm theo hƣớng chân núi Ngọc Linh thuộc huyện Đắc Tô tỉnh Kon Tum. Khi đoàn lên tỉnh Kon Tum, Ban Dân y Kon Tum cử thêm dƣợc tá Nguyễn Thị Lê trợ giúp cho đoàn dẫn đƣờng lên núi Ngọc Linh. Sau nhiều ngày vƣợt suối băng rừng, ngày 19 tháng 03 năm 1973, ở độ cao 1.800 mét so với mặt biển, đoàn đã phát hiện hai cây sâm đầu tiên và ngay buổi chiều cùng ngày đã phát hiện đƣợc một vùng sâm rộng lớn thuộc phía Tây núi Ngọc Linh.
Sau 15 ngày nghiên cứu toàn diện về hình thái, sinh thái, quần thể, quần lạc, phân bố, di cƣ và phát tán, dƣợc sĩ Đào Kim Long đã xác định núi Ngọc Linh là quê hƣơng của cây sâm mới, đặc biệt quý hiếm, chƣa từng xuất hiện tại bất cứ nơi nào khác trên thế giới và đặt tên là “sâm Đốt trúc” với tên khoa học sơ bộ là Panax articulates L., họ nhân sâm (Araliaceae) (Vũ Thị Hiền,2018). Những năm sau khi hòa bình lập lại, tháng 10 năm 1978 một tổ công tác thứ hai lên vùng núi Ngọc Linh với nhiệm vụ ƣớc lƣợng sơ bộ diện tích sâm mọc. Kết quả chuyến đi là việc tìm ra đƣợc một vùng dài hàng chục kilômét, có 5 trữ lƣợng khoảng 6.000 cây sâm mọc dày đặc với mật độ từ 1 mét vuông một cây đến 7,8 mét vuông một cây (Vũ Thị Hiền,2018). Phân loại: Giới : Plantae Ngành : Magnoliophyta Lớp : Magnoliopsida Bộ : Apiales Họ : Araliaceae Chi : Panax Loài : Panax vietnamensis Ha et Grush Hình 2.
Cây sâm Ngọc Linh Nguồn: https://lfi.vn/danh-muc-cac-loai-thuc-vat-quy-hiem-can-duoc-bao-ton-cua-viet-nam. Hình thái thực vật Sâm Ngọc Linh là loài cây thân thảo sống lâu năm, cao 40 – 100cm. Loài sâm này bắt đầu xuất hiện ở độ cao 1.500 m so với mực nƣớc biển, đạt mật độ cao nhất ở khoảng độ cao 1.700-2000 m dƣới tán rừng già. Thoạt nhìn thì thấy 6 rất giống sâm Triều Tiên, nhƣng nhìn kỹ sẽ thấy thân rễ có sẹo và các đốt nhƣ đốt trúc do thân khí sinh rụng hàng năm để lại.
Thân rễ: thân rễ thƣờng mọc ngang ở ngay trên và dƣới sát mặt đất khoảng 1-3 cm, đƣờng kính 1-3,5 cm, chiều dài thân dài dần theo số năm sinh trƣởng.