Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về các khoản ước tính trong kế toán và quy trình kiểm toáncác khoản ước tính kế toán Chương 3: Thực trạng về phương pháp kiểm toán các khoản ước tính trong BCTC tại công ty kiểm toán AASCs Chương 4: Nhận xét và kiến nghị 2 SVTH: Hứa Siếc Lin GVHD: Ngô Ngọc Linh Khóa luận tốt nghiệp CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC KHOẢN ƯỚC TÍNH TRONG KẾ TOÁN VÀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN 2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁC KHOẢN ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN: 2.1 Khái niệm các khoản ước tính kế toán dựa trên VSA 540 Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) 540: Ước tính kế toán: “là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến Báo cáo tài chính được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn, hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập Báo cáo tài chính.2 Phân loại và đặc điểm a) Phân loại: Bao gồm 2 loại: + Ước tính chỉ tiêu đã phát sinh: - Dự phòng nợ phải thu khó đòi; - Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính; - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho; - Trích khấu hao tài sản cố định; - Chi phí trả trước; - Giá trị sản phẩm dở dang; - Doanh thu ghi nhận trước; - Doanh thu hợp đồng xây dựng dở dang. + Ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh: - Dự phòng chi phí bảo hành; - Chi phí trích trước; -. 3 SVTH: Hứa Siếc Lin GVHD: Ngô Ngọc Linh Khóa luận tốt nghiệp Trong phạm vi giới hạn về thời gian, người viết xin chọn năm khoản mục ước tính sau để trình bày: 1) Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính ngắn hạn; 2) Dự phòng nợ phải thu khó đòi; 3) Dự phòng giảm giá hàng tồn kho ; 4) Chi phí trả trước; 5) Trích khấu hao tài sản cố định. b) Đặc điểm: Các khoản ước tính kế toán thông thường mang tính chất chủ quan và phụ thuộc nhiều vào xét đoán nghề nghiệp của người lập BCTC, vì thế bản thân các khoản ước tính này luôn chứa đựng nhiều rủi ro tiềm tàng.
Việc lập một ước tính kế toán có thể đơn giản hoặc phức tạp tùy theo tính chất của các chỉ tiêu. Ví dụ: Ước tính và phân bổ chi phí thuê nhà xưởng phải trả, đơn giản hơn là ước tính dự phòng giảm giá hàng tồn kho vì ước tính dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải phân tích dữ liệu hiện tại và dự tính bán hàng trong tương lai. Các ước tính kế toán có thể được thực hiện một cách thường xuyên trong kỳ kế toán, hoặc có thể được thực hiện vào cuối kỳ kế toán. Trong nhiều trường hợp, các ước tính kế toán được lập dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tế.
Ví dụ: Sử dụng tỷ lệ định mức giữa giá thành với doanh thu bán hàng kỳ trước để ư- ớc tính chi phí bảo hành. Trường hợp này, đơn vị phải thường xuyên soát xét lại các dữ liệu và phải so sánh kết quả thực tế với số liệu đã ước tính để điều chỉnh các ước tính kỳ sau. Việc lập BCTC dựa trên các xét đoán nghề nghiệp thường được đánh giá cao hơn so với việc sử dụng các xét đoán mang tính chủ quan. Thật vây, xét đoán chủ quan mang đậm tính cá nhân, như vậy sẽ làm giảm độ tin cậy của thông tin tài chính, vì có khả năng người lập BCTC sẽ tìm cách che giấu những thông tin quan trọng nếu những thông tin đó có ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của họ.3 Vai trò và tầm quan trọng của các khoản ước tính kế toán khi lập BCTC Bên cạnh những rủi ro do chính các khoản ước tính kế toán đem lại, chúng cũng góp phần không nhỏ trong việc mang lại những lợi ích kinh tế nhất định.
Vì vậy mà việc sử dụng chúng ngày càng được quan tâm. 4 SVTH: Hứa Siếc Lin GVHD: Ngô Ngọc Linh Khóa luận tốt nghiệp Giả sử nếu không cho phép doanh nghiệp sử dụng các khoản ước tính kế toán, khi đó chế độ kế toán sẽ phải cực kỳ chi tiết, liệt kê tất cả các tình huống có thể xảy ra đối với từng khoản mục trên BCTC bao gồm trực tiếp lẫn gián tiếp. Tính hiệu quả về mặt kinh tế và kỹ thuật sẽ không thể đáp ứng được. Nếu chế độ kế toán có thể thực hiện điều này, thì các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với không ít khó khăn.
Tình hình kinh doanh thay đổi theo từng ngày, các doanh nghiệp sẽ phải luôn đối chiếu với những quy định chi tiết trong luật để thay đổi cho kịp thời, điều này cũng tác động không nhỏ đến cán cân chi phí-lợi ích của doanh nghiệp. Hơn nữa, việc cho phép doanh nghiệp sử dụng các xét đoán chủ quan trong lập BCTC cũng mang lại nhiều lợi ích, chúng giúp cho doanh nghiệp có thể cung cấp nhưng thông tin cần thiết về triển vọng phát triển đồng thời tránh phải tiết lộ những thông tin chi tiết không có lợi cho việc cạnh tranh trên thị trường. Cuối cùng, ngay cả khi có thể xây dựng một chế độ kế toán chi tiết đến mức không còn có chỗ cho xét đoán chủ quan nữa, thì điều đó cũng không bảo đảm sẽ không có kẽ hở nếu doanh nghiệp cố tình tìm cách “lách luật”. Tóm lại, bên cạnh những rủi ro tiềm tàng nội tại của các khoản ước tính kế toán, thì lợi ích mà chúng mang lại cũng rất đáng kể.
Vì vậy, giải pháp khả thi hơn vẫn là nâng cao vai trò kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ, quản trị doanh nghiệp. Cuối cùng, vai trò quan trọng nhất trong dài hạn thuộc về thị trường, thị trường lành mạnh sẽ đào thải những doanh nghiệp làm ăn gian dối, đào thải những nhà quản lý báo cáo không trung thực.2 QUY TRÌNH KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN MỤC ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN 2.1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm một số công việc như tìm hiểu tình hình kinh doanh, hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh giá rủi ro kiểm toán và xác lập mức trọng yếu để lập kế hoạch và chương trình kiểm toán. Quy trình lập kế hoạch kiểm toán : Theo VSA 300 – Lập kế hoạch kiểm toán : a) Lập kế hoạch chiến lược: Là định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và phương pháp tiếp cận chung của cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch ra dựa trên hiểu biết về tình hình hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán. Trong đó, bao gồm việc đánh giá rủi ro kiểm toán: 5 SVTH: Hứa Siếc Lin GVHD: Ngô Ngọc Linh Khóa luận tốt nghiệp + Đánh giá rủi ro kiểm toán : Trích VSA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “Rủi ro kiểm toán: Là rủi ro kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn những sai sót trọng yếu.
Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm toán và rủi ro phát hiện. Rủi ro tiềm tàng: Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ. Rủi ro kiểm soát: Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời. Rủi ro phát hiện: Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán đã không phát hiện được.
Mối quan hệ giữa các loại rủi ro thể hiện qua công thức sau : AR=IR x CR x DR AR : Rủi ro kiểm toán IR : Rủi ro tiềm tàng CR : Rủi ro kiểm soát DR : Rủi ro phát hiện Rủi ro kiểm toán thường được đánh giá ở hai mức độ : x Mức độ tổng thể báo cáo tài chính : tiến hành dựa trên những thông tin thu thập được về đặc điểm và tình hình hoạt động kinh doanh, kinh nghiệm kiểm toán, các nhân tố về rủi ro tiềm tàng ở mức độ báo cáo tài chính, các nhân tố gia tăng khả năng gian lận và sai sót cũng như hành vi không tuân thủ pháp luật. Các câu hỏi cho việc đánh giá rủi ro tiềm tàng thường xoay quanh ở ba lĩnh vực chính : 3 Môi trường ngành và môi trường kinh doanh : về công suất sản xuất, khả năng sinh lợi, doanh thu, ảnh hưởng của việc thay đổi chính sách của Nhà nước. 3 Bản chất của hoạt động kinh doanh : về chu kỳ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. 6 SVTH: Hứa Siếc Lin GVHD: Ngô Ngọc Linh Khóa luận tốt nghiệp 3 Các vấn đề liên quan tới Hội đồng quản trị và Ban giám đốc.
x Mức độ từng khoản mục : việc đánh giá rủi ro ở từng khoản mục chịu sự ảnh hưởng của mức rủi ro trong phạm vi tổng thể. Kiểm toán viên dựa trên hiểu biết của mình, tính chất khoản mục và các thử nghiệm kiểm soát để đánh giá rủi ro. b) Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể: Là việc cụ thể hóa kế hoạch chiến lược và phương pháp tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của các thủ tục kiểm toán. Mục tiêu của việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể là để có thể thực hiện công việc kiểm toán một cách có hiệu quả và theo đúng thời gian dự kiến.
Trong đó bao gồm việc xác lập mức trọng yếu + Trọng yếu và phương pháp xác lập mức trọng yếu: Trích đoạn 04 VSA 330 : “Trọng yếu : là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính. Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay thiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC. Mức độ trọng yếu tùy thuộc vào tầm quan trọng của thông tin và tính chất của thông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có.