CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU VÀ GIAO NHẬN HÀNG HÓA 1.1 Nhập khẩu hàng hóa và hợp đồng nhập khẩu hàng hóa.1 Khái niệm Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài. Nếu xét trên phạm vi hẹp thì tại Điều 2 Thông tư số 04/TM-DT ngày 30/07/1993 của bộ thương mại định nghĩa: “ kinh doanh nhập khẩu là toàn bộ quá trình giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị và dịch vụ có liên quan đến thiết bị trong quan hệ bạn hàng với nước ngoài” Vậy thực chất kinh doanh nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hóa, vật tư ở thị trường nội địa hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau. Mục tiêu hoạt động kinh doanh nhập khẩu là sử dụng hiệu quả nguồn ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kĩ thuật và dịch vụ, phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng xuất lao động, tăng giá trị ngày công và giải quyết sự khan hiếm hàng hóa, vật tư trên thị trường nội địa Mặt khác kinh doanh nhập khẩu đảm bảo sự phát triển ổn định của các ngành kinh tế mũi nhọn của mỗi nước mà khả năng sản xuất trong nước chưa đảm bảo vật tư, thiết bị kĩ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển, khai thác triệt để lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hóa trong phân công lao động quốc tế, kết hợp hài hòa và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.2 Hợp đồng nhập khẩu hàng hóa Theo công ước Viên 1980 thì hợp đồng mua bán ngoại thương còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu, hợp đồng mua bán quốc tế là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (bên bán) có nghĩa vụ cung cấp và chuyển giao quyền sở hữu kèm theo các chứng từ có liên quan cho SVTT: Cao Đỗ Vương Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS - NCS Nguyễn Mỹ Chương một bên khác gọi là bên nhập khẩu (bên mua) một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá; bên nhập khẩu có nghĩa vụ nhận hàng và phải thanh toán tiền hàng.
Điều cốt lõi của hợp đồng nhập khẩu là sự thoả thuận giữa các bên ký kết. Nếu không có sự “ thuận mua vừa bán” thì không có mua bán, không có hợp đồng. Hình thức của sự thoả thuận cũng là hình thức của hợp đồng. Thoả thuận viết làm nên hợp đồng văn bản.
Ở nước ta hình thức duy nhất hợp pháp đối với hợp đồng nhập khẩu là văn bản. Hợp đồng văn bản là bản hợp đồng có chữ ký của hai bên mua bán, thư từ, hoặc điện tín, điện chữ (fax) trao đổi giữa các bên như bản chào hàng, chấp nhận chào hàng và xác nhận đơn đặt hàng.3 Các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng nhập khẩu. Tuỳ thuộc vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá hoặc tùy thuộc vào tập quán buôn bán giữa các bên, mà nội dung của hợp đồng có thể khác nhau. Có những hợp đồng đưa ra rất nhiều những điều khoản, điều kiện hết sức chặt chẽ và chi tiết, nhưng có những hợp đồng lại chỉ đưa ra những điều khoản cơ bản nhất và hết sức đơn giản.
Nhưng thông thường một hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thường gồm hai phần là: những điều trình bày (representations) và các điều khoản, điều kiện (terms and conditions). Trong phần trình bày người ta thường ghi: - Số hợp đồng (contract no) - Địa điểm và ngày tháng kí hợp đồng - Tên và địa chỉ của các đương sự - Những định nghĩa dùng trong hợp đồng - Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng: Đây có thể là hiệp định chính phủ, nghị định thư, chí ít người ta cũng đưa ra sự tự nguyện của hai bên khi tham gia kí kết hợp đồng. Các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng gồm: - Điều khoản về tên hàng - Điều khoản về phẩm chất - Điều khoản về số lượng SVTT: Cao Đỗ Vương Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS - NCS Nguyễn Mỹ Chương - Điều khoản về bao bì, kí mã hiệu - Điều khoản giá cả - Điều khoản về giao hàng - Điều khoản về thanh toán dựa trên các phương thức thanh toán quốc tế - Điều kiện cơ sở giao hàng - Và các điều khoản khác tùy vào tập quán, mối quan hệ và đối tượng mua bán mà các bên có thể thỏa thuận đưa thêm vào hợp đồng những điều khoản cần thiết. Đó là những điều khoản có tính chất thành luật và các bên có thể có thể tự ngầm định với nhau hay cũng có thể là các điều khoản hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện của các bên đưa vào.4 Vai trò của nhập nhập khẩu hàng hóa 1.1 Phân loại nhập khẩu • Nhập khẩu trực tiếp: Nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu mà người ký kết hợp đồng nhập khẩu là người trực tiếp mua lô hàng đó và thanh toán tiền hàng.
• Nhập khẩu ủy thác: Nhập khẩu ủy thác là hình thức nhập khẩu mà theo đó đơn vị đặt hàng gọi là bên ủy thác giao cho đơn vị ngoại thương gọi là đơn vị nhận ủy thác, tiến hành nhập khẩu một lô hàng nhất định. Bên nhận ủy thác phải ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng nhập khẩu với danh nghĩa của mình nhưng bằng tiền chi của bên ủy thác. • Nhập khẩu tái xuất: Nhập khẩu tái xuất là hình thức nhập khẩu mà người nhập khẩu tiến hành nhập khẩu hàng hóa để phục vụ mục đích xuất khẩu.2 Các phương thức vận chuyển • Vận tải đường bộ: Vận tải đường bộ là phương thức vận chuyển người, hàng hóa bằng các phương tiện di chuyển trên bộ như ô tô, xe khách, xe SVTT: Cao Đỗ Vương Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS - NCS Nguyễn Mỹ Chương tải, xe bồn, xe fooc, xe container, rơ moóc, sơ mi rơ moóc kéo theo ô tô…Vận tải đường bộ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động lựu thông hàng hóa và là lựa chọn hàng đầu với nhiều chủ hàng muốn chuyển hàng trong nội thành, liên tỉnh, bắc nam… Tuy nhiên, để vận chuyển hàng hóa quốc tế, vận tải đường bộ cần phải kết hợp với các phương thức khác như đường biển, đường hàng không…Mặc dù là một trong những loại hình có cước phí cao nhất nhưng vận tải đường bộ lại được đánh giá là hình thức chuyển hàng linh động vì có thể chuyển thẳng từ kho đến kho, từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết khác nhau, có thể đáp ứng được yêu cầu hàng hóa thị trường… • Vận tải đường biển: Vận tải đường biển (hay còn gọi là vận tải biển) là hình thức vận chuyển người, hàng hóa bằng các phương tiện di chuyển trên biển như tàu, thuyền… trên các đường giao thông biển. Vận tải đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác.
Ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng miền, các quốc gia với nhau trên thế giới. Cho đến nay vận tải biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế. Cảng biển là một cầu nối giao thông, nơi tập trung, nơi giao lưu của tất cả các phương tiện vận tải. Trong vận tải đa phương thức, các cảng biển đặc biệt là các bến container giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Từ các bến container, hàng được chuyển từ các phương tiện vận tải biển sang các phương tiện vận tải khác và ngược lại. Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá trong buôn bán quốc tế. Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên. Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển rất lớn.
Nhìn chung năng lực chuyên chở của vận tải đường biển (tàu biển) không bị hạn chế như các công cụ của các phương thức vận tải khác. Ưu điểm nổi bật của vận tải đường biển là giá thành thấp. Tuy nhiên, vận tải đường biển có một số nhược điểm đó là SVTT: Cao Đỗ Vương Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS - NCS Nguyễn Mỹ Chương vận tải đường biển phụ thuộc rất nhiều vào điệu kiện tự nhiên. Tốc độ của tàu biển còn thấp và việc tăng tốc độ khai thác của tàu biển còn bị hạn chế.
Từ những đặc điểm kinh tế kỹ thuật nói trên của vận tải đường biển, ta có thể rút ra kết luận một cách tổng quát về phạm vi áp dụng như sau đó là vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc tế ngoài ra vận tải đường biển còn thích hợp với chuyên chở hàng hoá có khối lượng lớn, chuyên chở trên cự ly dài nhưng không đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh chóng. • Vận tải đường sắt: Vận tải đường sắt là loại hình vận chuyển người, hàng hóa bằng phương tiện có bánh được thiết kế để chạy trên loại đường đặc biệt là đường ray. Tại Việt Nam, tàu hỏa chính là phương tiện đường sắt duy nhất. Mặc dù là hình thức vận chuyển hàng hóa hiệu quả tuy nhiên chi phí xây dựng hệ thống đường sắt rất lớn và tốn kém.
Ưu điểm của vận tải đường sắt chính là có thể vận chuyển lượng hàng hóa lớn, trung bình một toa tàu bình thường có thể mang 125 tấn hàng hóa trên bốn trục bánh. Ngoài ra, vận tải đường sắt cũng sử dụng diện tích và không gian hiệu quả, ít bị hư hỏng và sữa chữa.Tuy nhiên, giá cước vận chuyển đường sắt không rẻ hơn vận tải đường bộ là bao nhưng lại khâu vận chuyển rất phức tạp, đặc biệt quá trình vận chuyển hàng từ nơi sản xuất lên tàu, từ tàu về kho tốn rất nhiều nhân công và chi phí gây tốn kém rất nhiều. • Vận tải đường hàng không: Vận tải hàng không là hình thức vận chuyển người, hàng hóa bằng các phương tiện di chuyển trên không, mà chủ yếu là các loại máy bay.