CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ HẠ TẦNG KỸ THUẬT 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ DỰ ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT.1 Khái niệm dự án hạ tầng kỹ thuật. Cơ sở hạ tầng. Theo Từ điển Cambridge, thuật ngữ “kết cấu hạ tầng” gồm bốn nhóm trên 4 bình diện: 1/Tiện ích công cộng (public utilities): năng lượng, viễn thông, nước sạch cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt truyền tải qua ống, hệ thống thu gom và xử lý chất thải trong thành phố. 2/ Công chánh (public works): đường sá, các công trình xây dựng đập, kênh phục vụ tưới tiêu… 3/ Giao thông (transport): các trục và tuyến đường bộ, đường sắt chính quy, đường sắt vận chuyển nhanh, cảng cho tầu và máy bay, đường thủy… 4/ Hạ tầng xã hội (social infrastructure): trường học, bệnh viện…1 1.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động chưa có cần thiết đầu tư cơ sở hạ tầng dùng chung cho toàn xã hội. Nhưng khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần có sự tham gia của cơ sở hạ tầng, để việc kết nối, phân phối các nguồn lực được thuận lợi. 1 Từ điển cambridge, <https://dictionary.org/vi/dictionary/english/> LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Khi con người bước ra khỏi xã hội săn bắn, hái lượm, bước vào văn minh nông nghiệp; các cộng đồng loài người cần đến những hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung cho cả cộng đồng, khởi thuỷ là hạ tầng thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp.
Tuy nhiên, hoạt động đầu tư hạ tầng kỹ thuật trở nên thường xuyên, khi con người thoát ra khỏi mô hình tự cung, tự cấp; đẩy mạnh sản xuất theo mô hình hàng hoá, khiến nhu cầu hạ tầng kỹ thuật phục vụ nhu cầu sản xuất, lưu thông tăng vọt. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Bên cạnh đó, chính vì sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn 3 2.
Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng xã hội. Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển. Ngày nay, các công trình giao thông vận tải, bưu điện, thông tin liên lạc, dịch vụ xã hội như: đường sá, kênh mương dẫn nước, cấp thoát nước, sân bay, nhà ga xe lửa, ô tô, cảng sông, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thống mạng điện, đường ống dẫn xăng dầu, dẫn khí ga, hơi đốt, kho tàng, giao thông vận tải, giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi du lịch, vui chơi giải trí, rác thải môi trường đô thị v. v… được gọi là kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
Theo Luật Xây dựng 2014, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác.3 2 Tổng cục thống kê 2018, Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước, <https://www.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=19041>, ngày truy cập 28/12/2018 3 Khoản 22, Điều 3, Luật Xây dựng 2014 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc. Tóm lại, Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất đã sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Công trình hạ tầng kỹ thuật. Công trình hạ tầng kỹ thuật là các cơ sở hạ tầng dành cho dịch vụ công cộng, ví dụ giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, rác.
Ở Việt Nam, chúng còn có tên gọi thông dụng là cơ sở hạ tầng hoặc tên gọi dân dã là điện, đường, trường, trạm. Các công trình này thường do các tập đoàn của chính phủ hoặc của tư nhân, thuộc sở hữu tư nhân hoặc sở hữu công. Dự án hạ tầng kỹ thuật. Dự án là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể, nhằm đạt được một kết quả dự kiến, trong một thời gian dự kiến, với một kinh phí dự kiến.
Vậy dự án hạ tầng kỹ thuật là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể, nhằm thực hiện việc xây dựng các cơ sở hạ tầng dành cho dịch vụ công cộng, ví dụ giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, rác.2 Các nguồn vốn đầu tư dự án hạ tầng kỹ thuật. Vốn là điều kiện hàng đầu đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, là một nhân tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; nhất là các quốc gia đang phát triển có nhu cầu vốn đầu tư cao, đặc biệt đối với nền kinh tế nước ta hiện nay. Ngoài ra, vốn còn là điều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 kiện không thể thiếu trong việc tạo ra cơ hội việc làm rất lớn cho xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. “Vốn đầu tư là phần tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh – dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt cho mỗi gia đình”4.
Vốn, nguồn lực, khác với tài sản ở chỗ: nguồn lực trên phải nằm trong một dự án đầu tư thì mới được gọi là nguồn vốn đầu tư. Nếu không chúng chỉ mới là nguồn lực tích lũy và dự trữ dưới dạng tiềm năng. Nói cách khác, vốn đầu tư phải là nguồn lực trong trạng thái “động”. Phân loại vốn đầu tư.
* Phân loại theo gốc nguồn vốn: Nguồn vốn đầu tư phát triển của xã hội được huy động từ nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài; bao gồm: nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng (tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng), các nguồn vốn khác (vốn đầu tư của doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư). Nguồn vốn ngoài nước gồm có: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn vốn vay, viện trợ chính thức (ODA) và các nguồn vốn khác. Nguồn vốn trong nước Nguồn vốn đầu tư trong nước thể hiện nội lực sức mạnh của một quốc gia. Nguồn vốn này có đặc điểm là ổn định, tính bền vững, chi phí thấp, giảm thiểu được những rủi ro và hậu quả xấu đối với nền kinh tế do những tác động từ bên ngoài.
Nguồn vốn trong nước được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế. Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn cơ bản, có vai trò quyết định chi phối mọi hoạt 4 Giáo trình kinh tế đầu tư, Đại học kinh tế quốc dân, năm 2012 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 động đầu tư phát triển trong nước. Trong lịch sử phát triển các nước và trên phương diện lý luận chung, bất kỳ nước nào cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính. Sự chi viện bổ sung từ bên ngoài chỉ là tạm thời, chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng đề ra của quốc gia.
- Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: Vốn ngân sách nhà nước (NSNN): là số chênh lệch dương giữa các khoản thu mang tính chất không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu dùng của ngân sách. Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Như vậy, vốn đầu tư của nhà nước là một phần tiết kiệm chi tiêu dùng thường xuyên của NSNN để chi cho đầu tư phát triển. Nguồn vốn phụ thuộc vào khả năng tập trung thu nhập quốc dân vào NSNN và quy mô chi tiêu dùng thường xuyên của NSNN.
Một quan hệ thường thấy trong cân đối ngân sách quốc gia là bội thu hoặc bội chi ngân sách. Nếu bội thu ngân sách thì Nhà nước có nguồn tiết kiệm một phần hình thành nên vốn đầu tư phát triển. Vì vậy, muốn có tiết kiệm từ ngân sách nhà nước thì tốc độ tăng chi đầu tư phát triển phải lớn hơn tốc độ tăng chi thường xuyên. Nhưng thực tế ở các nước đang phát triển thì tiết kiệm của Chính phủ không phải là nguồn đầu tư chủ yếu, vì thu ngân sách nhà nước của các nước này thường hạn chế mà nhu cầu chi tiêu thường xuyên cao hơn; nên Nhà nước chỉ tập trung đầu tư ở những lĩnh vực vần thiết.
Mục tiêu huy động vốn NSNN phải dành khoảng từ 20 – 25 % tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển hằng năm. Đầu tư từ NSNN là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư. Nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm đẩy mạnh đầu tư của mội thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội. Với vai trò LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định điều điều tiết vĩ mô, vốn tư NSNN đã được nhận thức và vận dụng khác nhau tuỳ thuộc quan niệm của mỗi quốc gia.
- Nguồn nhà nước huy động qua hình thức phát hành trái phiếu: Vốn tín dụng nhà nước là hình thức vay nợ của Nhà nước thông qua kho bạc Nhà nước, được thực hiện chủ yếu bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ, do Bộ Tài chính phát hành. Trong trường hợp nhu cầu chi tiêu của của ngân sách nhà nước lớn, nhưng nguồn thu lại không thể đáp ứng được.