Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi lợn giữ vai trò trọng yếu và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nông thôn. Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất truyền thống quy mô nông hộ, xu hướng phát triển chăn nuôi quy mô trang trại công nghiệp tập trung theo hình thức gia công cho các doanh nghiệp lớn (như Tập đoàn Charoen Pokphand - C.P. Việt Nam) ngày càng mở rộng. Mô hình này giúp khai thác nguồn vốn đầu tư, đồng bộ hóa quy trình kỹ thuật, kiểm soát an toàn sinh học và hướng tới chuỗi cung ứng nông nghiệp sạch phục vụ thị trường nội địa lẫn xuất khẩu.

Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là trở ngại lớn nhất đối với các cơ sở chăn nuôi lợn tập trung. Tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp thường gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, đặc biệt là các hội chứng bệnh sinh sản trên đàn lợn nái (viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó) và bệnh truyền nhiễm, đường ruột trên đàn lợn con bú sữa (tiêu chảy phân trắng, viêm phổi, dịch tiêu chảy cấp PED). Trong đó, dịch tiêu chảy cấp (PED) có tốc độ lây lan nhanh và tỷ lệ tử vong cao ở lợn con, đòi hỏi phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và an toàn sinh học. Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó, đề tài "Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn lợn nuôi tại Công ty CP Bình Minh, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội" đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định rõ:

  1. Đánh giá tình hình chăn nuôi tại Công ty CP Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
  2. Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái và lợn con nuôi tại trang trại.
  3. Thực hiện quy trình phòng và trị một số bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con tại trang trại.

Nhiệm vụ và yêu cầu đặt ra bao gồm:

  1. Đánh giá toàn diện hiện trạng chăn nuôi, cơ sở hạ tầng và năng suất sinh sản tại cơ sở.
  2. Áp dụng hiệu quả các bước trong quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn nái chửa, nái đẻ và lợn con theo mẹ.
  3. Xác định tỷ lệ mắc các bệnh phổ biến, triển khai quy trình vệ sinh sát trùng, tiêm phòng vắc xin và đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị lâm sàng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Đàn lợn nái ngoại sinh sản và đàn lợn con theo mẹ từ giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi (kéo dài tối đa đến 26 ngày tuổi trước khi cai sữa).
  • Phạm vi không gian: Trang trại chăn nuôi gia công của ông Nguyễn Sỹ Bình thuộc Công ty CP Bình Minh, thôn Trung, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (tổng diện tích khuôn viên 10,2 ha, quy mô thiết kế chuồng trại khép kín cho 1.200 lợn nái).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu, theo dõi và can thiệp thực tế từ ngày 18/11/2016 đến ngày 25/05/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề vận dụng hệ thống lý thuyết chuyên ngành chăn nuôi và bệnh học thú y đối với lợn ngoại sinh sản và lợn con bú sữa:

  • Đặc điểm sinh học và sinh sản của giống lợn ngoại Yorkshire và Landrace: Tốc độ tăng khối lượng bình quân từ 700 - 750 g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn 3,0 kg/kg tăng trọng, tỷ lệ nạc từ 56% đến 59%, khả năng sinh sản đạt từ 10 - 12 con/lứa. Phương thức lai kinh tế giữa nái Landrace và đực Yorkshire (hoặc ngược lại) được áp dụng nhằm khai thác ưu thế lai về năng suất con giống.
  • Sinh lý sinh dục và chu kỳ động dục ở lợn nái: Chu kỳ tính kéo dài khoảng 21 ngày gồm 4 giai đoạn nối tiếp nhau (trước động dục từ 1 - 2 ngày, động dục từ 2 - 3 ngày, sau động dục khoảng 2 ngày và giai đoạn nghỉ ngơi 10 - 12 ngày). Thời gian mang thai trung bình của lợn nái là 114 ngày.
  • Bệnh học sinh sản ở nái: Nghiên cứu phân tích nguyên nhân và bệnh lý của hiện tượng đẻ khó (do rặn đẻ yếu nguyên phát/thứ phát, khô âm đạo, hẹp đường sinh dục), bệnh viêm tử cung (phân loại thành 3 thể: viêm nội mạc, viêm cơ và viêm tương mạc) và bệnh viêm vú do vi khuẩn (Staphylococcus spp., Arcanobacterium pyogenes, E. coli, Streptococcus spp.).
  • Sinh lý sinh trưởng và bệnh lý lợn con: Đặc tính phát triển thể trọng tăng gấp 4 lần sau 21 ngày tuổi và sự hoàn thiện của bộ máy tiêu hóa; cơ chế gây bệnh của các hội chứng tiêu chảy (do E. coli, Salmonella), bệnh viêm phổi do Mycoplasma hyopneumoniae, viêm khớp do Streptococcus suis và bệnh dịch tiêu chảy cấp do Coronavirus (PED).

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

  • Phương pháp điều tra, thu thập thông tin: Ghi nhận số liệu gián tiếp từ sổ sách lưu trữ của trang trại và cán bộ kỹ thuật Công ty CP Bình Minh về tổng đàn, chỉ tiêu sinh sản giai đoạn 2015 đến tháng 6/2017.
  • Phương pháp theo dõi lâm sàng: Hàng ngày trực tiếp quan sát bằng mắt thường trạng thái cơ thể lợn nái, màu sắc và mùi dịch rỉ viêm ở mép âm môn, kiểm tra tình trạng bầu vú, kiểm tra phân và thân nhiệt lợn con, phát hiện triệu chứng co giật, thở thể bụng hoặc viêm sưng các khớp xương.
  • Phương pháp can thiệp kỹ thuật thú y:
    • Vệ sinh, khử trùng bằng thuốc sát trùng Omicide (pha tỷ lệ 320 ml dung dịch/1.000 lít nước), dung dịch NaOH 10%, vôi xút và vôi bột rải lối đi.
    • Áp dụng quy trình tiêm phòng vắc xin và thuốc bổ trợ định kỳ do Trung tâm Chẩn đoán và Cố vấn Thú y thuộc Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam ban hành (gồm vắc xin dịch tả lợn Coglapest, giả dại Begonia, khô thai Parvo, suyễn Respi-sure, Circo Pigvac, PRRS, FMD).
    • Thực hiện các thủ thuật phẫu thuật thông thường trên lợn con: bấm răng nanh sơ sinh, tiêm chế phẩm sắt Fe-Dextran-B12 10%, thiến hoạn dịch hoàn lợn đực thương phẩm và phẫu thuật xử lý thoát vị bẹn (mổ hecni).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu theo dõi lâm sàng, tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ thực hiện kỹ thuật được tổng hợp và tính toán tỷ lệ phần trăm thông qua phần mềm Microsoft Excel 2007.

Nội dung chính theo từng phần

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc áp dụng quy trình kỹ thuật khép kín trong chăn nuôi lợn công nghiệp tại Việt Nam. Phân tích rõ áp lực dịch bệnh trên đàn nái và lợn con, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm PED diện rộng. Xác định hệ thống 3 mục tiêu trọng tâm và 3 yêu cầu cụ thể cần đạt được trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Công ty CP Bình Minh.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, địa lý và hạ tầng của trang trại ông Nguyễn Sỹ Bình tại thôn Trung, xã Phù Lưu Tế. Trang trại có tổng diện tích 10,2 ha (đất xây dựng chuồng trại 2,5 ha, đất trồng cây ăn quả 2,3 ha, đất trồng lúa 2,4 ha và ao hồ xử lý nước 3,0 ha). Quy mô chuồng khép kín gồm 6 chuồng đẻ (mỗi chuồng 56 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m), 2 chuồng bầu (mỗi chuồng 560 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m), 3 chuồng cách ly và 1 chuồng nuôi đực giống; hệ thống làm mát bằng giàn lạnh và quạt thông gió.

Nội dung tổng quan tài liệu làm rõ cơ sở lý thuyết về hai giống lợn Yorkshire và Landrace, sinh lý chu kỳ động dục 4 giai đoạn của nái, sinh lý mang thai 114 ngày. Cung cấp chi tiết quy trình dinh dưỡng theo chuẩn C.P.: lợn nái chửa từ tuần 1 đến tuần 12 sử dụng thức ăn hỗn hợp 566F với mức ăn 1,8 - 2,0 kg/con/ngày; từ tuần 13 đến 14 dùng thức ăn 566F mức 2,2 - 3,5 kg/con/ngày; từ tuần 15 trở đi chuyển sang thức ăn 567SF với mức 2,2 - 3,5 kg/con/ngày. Lợn nái chờ đẻ được đưa lên chuồng đẻ trước 7 - 10 ngày, tiêu chuẩn cám 567SF đạt 2,2 kg/ngày đối với nái hậu bị, 3,5 kg/ngày đối với nái lứa 2 đến lứa 4, và 5,0 kg/ngày đối với nái từ lứa 5 trở lên; giảm thức ăn trước đẻ 4 ngày và tăng dần sau khi đẻ đạt 0,5 - 6,0 kg/con/ngày chia làm 3 - 4 bữa.

Phần tài liệu cũng phân tích sâu các nguyên nhân và triệu chứng của bệnh đẻ khó, viêm tử cung (nội mạc, cơ, tương mạc), viêm vú ở nái, cũng như các hội chứng tiêu chảy, viêm phổi, viêm khớp và dịch tiêu chảy cấp PED ở lợn con.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nêu rõ phạm vi nghiên cứu trên đàn nái và lợn con giai đoạn 18/11/2016 – 25/05/2017. Xây dựng lịch trình làm việc chuẩn hàng ngày và hàng tuần:

  • Công việc hàng ngày: Kiểm tra quạt gió, giàn mát, duy trì nhiệt độ đầu chuồng ở mức 27°C; vệ sinh máng ăn, cung cấp thức ăn cho nái chửa 2 bữa/ngày (7h00 và 16h30), nái nuôi con tăng lên 3 - 4 bữa/ngày; thay giặt thảm úm, rắc vôi hành lang, phun thuốc sát trùng 2 lần/ngày (lúc 9h00 và 15h00); tiêm kháng sinh 3 ngày liên tiếp cho nái mới sinh, điều trị lợn ốm; bấm nanh và nhỏ thuốc phòng cầu trùng cho lợn con 3 ngày tuổi.
  • Công việc hàng tuần: Cai sữa chuyển nái vào thứ Ba và thứ Bảy; thiến hoạn lợn đực vào thứ Tư và Chủ nhật; tiêm vắc xin lợn con vào thứ Sáu; tổng vệ sinh chuồng trại vào thứ Năm.
  • Phác đồ khẩn cấp ứng phó dịch PED: Truyền dịch sinh lý cho nái bỏ ăn; bổ sung chất điện giải (oresol, electrolytes) kết hợp atropin vào máng uống lợn con; trộn vitamin C/electrolytes vào khẩu phần ăn nái; chế tạo Auto-vaccine (gây nhiễm nhân tạo bằng ruột lợn con mắc bệnh nghiền nát) cho đàn nái; thực hiện tiêu hủy xác lợn con chết và tăng cường sát trùng bằng Omicide và xút NaOH 10%.
  • Thiết lập chi tiết lịch sát trùng 7 ngày trong tuần và lịch tiêm phòng vắc xin cụ thể cho từng loại lợn (nái, con, đực, hậu bị).

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Tác giả trình bày toàn bộ số liệu thu thập và kết quả thực tế đạt được:

  • Hiện trạng tổng đàn: Quy mô lợn đực giống tăng từ 23 con (2015) lên 26 con (tháng 6/2017); nái hậu bị tăng từ 82 con lên 160 con; đàn nái sinh sản duy trì ở mức 1.589 con năm 2017. Năng suất đạt 2,45 - 2,5 lứa/nái/năm; số con sơ sinh đạt 11,8 con/nái; số con cai sữa đạt 20,62 con cai sữa/nái/năm.
  • Công tác vệ sinh sát trùng: Trực tiếp thực hiện 360/360 lần vệ sinh chuồng trại (đạt 100%), 35/35 lần phun sát trùng định kỳ khuôn viên (đạt 100%), 180/360 lần quét và rắc vôi bột lối đi lại (đạt 50%).
  • Công tác phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin: Tiêm Fe-Dextran-B12 và cho uống phòng cầu trùng đạt 1.344/1.344 lợn con (100%); tiêm vắc xin Mycoplasma phòng suyễn đạt 1.323/1.323 con (100%); tiêm vắc xin dịch tả lợn con đạt 1.024/1.024 con (100%). Trên đàn nái (112 con theo dõi), tác giả gián tiếp hỗ trợ tiêm vắc xin Parvo khô thai được 21 con (18,75%), dịch tả Coglapest được 39 con (34,82%), giả dại Begonia được 31 con (27,68%).
  • Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh: Trên đàn lợn nái, phát hiện 28 ca viêm tử cung, điều trị khỏi 21 con (tỷ lệ khỏi 75%, chết/loại thải 7 con chiếm 25%); phát hiện 5 ca viêm vú, điều trị khỏi 4 con (tỷ lệ khỏi 80%, chết 1 con chiếm 20%). Trên đàn lợn con, chẩn đoán 1.008 ca mắc hội chứng tiêu chảy, điều trị khỏi 672 con (tỷ lệ khỏi 66,67%); ghi nhận 384 ca viêm phổi, điều trị khỏi 363 con (tỷ lệ khỏi 94,53%).
  • Kết quả thủ thuật và phẫu thuật: Tham gia đỡ đẻ 112/112 ca nái sinh (100%), mài nanh 1.344/1.344 lợn con (100%), thiến hoạn 512/512 lợn đực (100%), thực hiện mổ thoát vị bẹn (hecni) 10/28 lợn con mắc bệnh (đạt tỷ lệ 35,71%).
  • Nuôi dưỡng và xuất chuồng: Thực hiện 180/180 ca cho ăn hàng ngày (100%), tắm chải lợn mẹ 36/90 lần theo quy định (đạt 41,11% do mùa đông rét buốt), tham gia đầy đủ 24/24 đợt xuất bán lợn con (100%).

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đánh giá tổng quát hiệu quả vận hành của cơ sở: đàn lợn duy trì năng suất cao, tỷ lệ sống lợn con tăng dần, quy trình an toàn sinh học được giám sát nghiêm ngặt. Đưa ra 5 đề xuất kỹ thuật tập trung vào khâu vệ sinh hộ lý khi đỡ đẻ, điều chỉnh nhiệt độ chuồng úm giai đoạn 8 - 21 ngày tuổi, và áp dụng quy trình tiêm bổ sung sắt cho nái mang thai trước khi sinh 2 - 3 tuần và lợn con lúc 10 ngày tuổi.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã phản ánh kết quả áp dụng quy trình kỹ thuật thông qua các số liệu lâm sàng cụ thể:

Bảng 1: Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn theo dõi tại trại

Đối tượng Tên bệnh theo dõi Số lợn theo dõi (con) Số lợn mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%) Số lợn điều trị khỏi (con) Tỷ lệ khỏi (%) Số lợn không khỏi / chết (con) Tỷ lệ chết (%)
Lợn nái Viêm tử cung 112 28 25,00 21 75,00 7 25,00
Viêm vú 112 5 4,46 4 80,00 1 20,00
Lợn con Hội chứng tiêu chảy 1.344 1.008 75,00 672 66,67 336 33,33
Bệnh viêm phổi 1.344 384 28,57 363 94,53 21 5,47

Bảng 2: Kết quả thực hiện các thủ thuật, phẫu thuật trên đàn lợn con

STT Tên công việc / Thủ thuật Số lượng phát hiện / Quy định (con) Số lượng thực hiện an toàn (con) Tỷ lệ hoàn thành (%)
1 Đỡ đẻ cho lợn nái 112 112 100,00
2 Mài nanh cho lợn con sơ sinh 1.344 1.344 100,00
3 Thiến hoạn lợn đực thương phẩm 512 512 100,00
4 Phẫu thuật thoát vị bẹn (mổ hecni) 28 10 35,71

Các đóng góp thực tiễn của khóa luận bao gồm:

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm khách quan về hiệu quả của các giải pháp phòng trị bệnh quy mô công nghiệp: Chứng minh việc áp dụng tiêm sắt Fe-Dextran-B12 10% kết hợp phòng cầu trùng sớm ở 3 ngày tuổi và tiêm phòng vắc xin Mycoplasma giúp tỷ lệ can thiệp bệnh viêm phổi đạt tỷ lệ điều trị thành công rất cao (94,53%).
  • Phản ánh trung thực khó khăn trong điều trị tiêu chảy trên lợn con bú sữa (tỷ lệ khỏi chỉ đạt 66,67%) do sức đề kháng non yếu và sự xâm nhập của mầm bệnh phức hợp, cung cấp kinh nghiệm ứng phó thực tế bằng biện pháp bù điện giải và Auto-vaccine khi có dịch PED.
  • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng: Hoàn thiện thao tác đỡ đẻ vô trùng, giảm thiểu tổn thương niêm mạc âm đạo để hạ thấp tỷ lệ nái viêm tử cung; kiến nghị bổ sung tiêm chế phẩm sắt cho nái trước sinh 2 - 3 tuần và tiêm nhắc lại lần 2 cho lợn con lúc 10 ngày tuổi nhằm nâng cao sức đề kháng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Điều kiện cơ sở vật chất của trang trại được xây dựng từ năm 2008 nên qua thời gian vận hành hệ thống chuồng trại, trang thiết bị đã có phần xuống cấp, hư hỏng làm ảnh hưởng nhất định đến công tác chăm sóc và quản lý dịch bệnh.
  • Lượng nước thải phát sinh từ tổng đàn quy mô lớn gây áp lực nặng nề cho hệ thống ao hồ và khu xử lý chất thải của cơ sở.
  • Một số chỉ tiêu kỹ thuật chưa đạt tần suất tối đa theo kế hoạch: tỷ lệ quét và rắc vôi bột lối đi chỉ đạt 50% (180/360 lần); tỷ lệ tắm chải cho nái chỉ đạt 41,11% (36/90 lần) do thời gian nghiên cứu diễn ra trong các tháng mùa đông rét buốt, hạn chế dùng nước lạnh để tránh gây sốc nhiệt cho nái mang thai.
  • Việc thực hiện tiêm phòng vắc xin cho đàn nái sinh sản của sinh viên thực tập còn hạn chế (đạt từ 18,75% đến 34,82%) do đàn nái có giá trị kinh tế cao, đòi hỏi kỹ thuật viên chính thức trực tiếp thao tác.
  • Tỷ lệ mổ xử lý thoát vị bẹn (hecni) trên lợn con mới đạt 35,71% (10/28 con) do kỹ thuật phẫu thuật ngoại khoa phức tạp, đòi hỏi điều kiện vô trùng cao.

Hướng nghiên cứu và khuyến nghị kỹ thuật tiếp theo:

  • Hoàn thiện nghiên cứu đánh giá hiệu quả miễn dịch của quy trình tiêm sắt Fe-Dextran-B12 10% trên nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 2 - 3 tuần đối với trọng lượng sơ sinh và sức đề kháng của lợn con.
  • Đánh giá ảnh hưởng của chế độ kiểm soát tiểu khí hậu chuồng nuôi bằng thiết bị sưởi điện đối với tỷ lệ mắc tiêu chảy và viêm phổi ở lợn con theo mẹ trong giai đoạn 8 - 21 ngày tuổi vào mùa đông.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Là tài liệu học tập thực tế về quy trình vận hành một trang trại nuôi lợn gia công khép kín theo tiêu chuẩn của doanh nghiệp nước ngoài (C.P. Việt Nam), cung cấp đầy đủ định mức cám, lịch tiêm phòng chi tiết và kỹ thuật thực hiện các thủ thuật cơ bản trên lợn con (mài nanh, thiến lợn, mổ hecni).
  • Kỹ sư chăn nuôi và kỹ thuật viên thú y trang trại: Tham khảo bảng thống kê chi tiết các loại vắc xin (thời điểm dùng, loại thuốc, đường tiêm cho từng đối tượng lợn) và phác đồ xử lý thực địa khi trang trại xảy ra dịch tiêu chảy cấp PED.
  • Các nghiên cứu tương tự về năng suất sinh sản: Báo cáo cung cấp bộ dữ liệu nền tảng về tỷ lệ mắc và khỏi bệnh của viêm tử cung, viêm vú ở đàn nái ngoại sinh sản (Yorkshire, Landrace) trong điều kiện khí hậu miền Bắc Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Trang trại Công ty CP Bình Minh hoạt động theo phương thức chăn nuôi nào và có quy mô ra sao?
Trang trại hoạt động theo phương thức liên kết chăn nuôi gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam từ năm 2008. Chủ trang trại đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trên diện tích 10,2 ha (gồm 6 chuồng đẻ 336 ô, 2 chuồng bầu 1.120 ô, 3 chuồng cách ly và 1 chuồng đực giống khép kín giàn mát quạt thông gió) và thuê nhân công; phía C.P. Việt Nam cung cấp giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, vắc xin và cán bộ kỹ thuật giám sát. Tính đến tháng 6/2017, quy mô đàn gồm 26 lợn đực giống, 160 nái hậu bị, 1.589 nái sinh sản và sản xuất hơn 39.000 lợn con.

2. Quy định về khẩu phần và định mức thức ăn cho lợn nái chửa tại trại được áp dụng như thế nào?
Khẩu phần được phân bổ nghiêm ngặt theo tuần tuổi thai:

  • Từ tuần 1 đến tuần 12 của thai kỳ: Sử dụng thức ăn hỗn hợp mã hiệu 566F với định mức 1,8 - 2,0 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày.
  • Từ tuần 13 đến tuần 14 của thai kỳ: Sử dụng thức ăn 566F với định mức 2,2 - 3,5 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày.
  • Từ tuần 15 trở đi đến trước khi đẻ: Chuyển sang thức ăn 567SF với định mức 2,2 - 3,5 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày. Trước ngày dự kiến đẻ 4 ngày, tiêu chuẩn ăn được cắt giảm xuống 0,5 kg/con/bữa.

3. Hiệu quả can thiệp điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái đạt mức nào và do các nguyên nhân nào gây ra?
Trong số 112 nái theo dõi, có 28 con mắc viêm tử cung (chiếm 25,00%), điều trị khỏi 21 con (đạt tỷ lệ khỏi 75,00%), số không khỏi và phải loại thải/chết là 7 con (chiếm 25,00%). Tác giả xác định nguyên nhân chính do giống lợn ngoại năng suất cao chưa thích nghi hoàn toàn với thời tiết nóng ẩm, thao tác thụ tinh nhân tạo làm sây sát niêm mạc tử cung, và kỹ thuật can thiệp móc thai khi lợn đẻ khó chưa đảm bảo vô trùng tuyệt đối, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập.

4. Khi trại xuất hiện dịch tiêu chảy cấp (PED), những biện pháp kỹ thuật cấp bách nào đã được tiến hành?
Quy trình can thiệp khẩn cấp gồm: truyền dịch nước muối sinh lý cho lợn nái bỏ ăn và tiêu chảy; hòa tan chất điện giải (electrolytes, oresol) kết hợp atropin vào máng uống cho lợn con; trộn vitamin C và chất điện giải vào khẩu phần ăn của lợn nái; tự chế tạo Auto-vaccine (gây nhiễm nhân tạo bằng mô ruột lợn con bệnh) cấp cho đàn lợn nái; loại bỏ và tiêu hủy nghiêm ngặt lợn con kiệt sức, lợn chết; tăng cường tiêu độc sát trùng toàn trại bằng Omicide và rắc vôi bột.

5. Tại sao tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái của sinh viên thực tập lại thấp hơn nhiều so với đàn lợn con?
Trên đàn lợn con theo mẹ, sinh viên thực hiện tiêm phòng sắt, thuốc cầu trùng và các loại vắc xin đạt tỷ lệ tuyệt đối 100%. Tuy nhiên, trên đàn nái sinh sản (112 con), tỷ lệ tham gia tiêm phòng chỉ đạt từ 18,75% đến 34,82% (Parvo 21 con, Coglapest 39 con, Begonia 31 con) do sinh viên thực tập chưa có nhiều kinh nghiệm và kỹ thuật tiêm gia súc lớn, trong khi đàn nái có giá trị kinh tế rất lớn nên quy trình của trại quy định các kỹ sư và kỹ thuật viên chính thức trực tiếp thực hiện, sinh viên chỉ đóng vai trò hỗ trợ gián tiếp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mai Anh đã phản ánh chi tiết việc áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc, phòng và trị bệnh trên đàn lợn tại Công ty CP Bình Minh trong thời gian thực tập 6 tháng. Nghiên cứu cung cấp số liệu thực nghiệm đầy đủ về năng suất đàn nái (11,8 con sơ sinh/lứa; 20,62 con cai sữa/nái/năm), tỷ lệ thực hiện vệ sinh sát trùng, cũng như hiệu quả điều trị các bệnh viêm tử cung, viêm vú ở nái và tiêu chảy, viêm phổi ở lợn con theo quy chuẩn kỹ thuật của C.P. Việt Nam. Dù gặp khó khăn về hạ tầng cơ sở và thời tiết mùa đông khắc nghiệt, công trình đã đề xuất được những khuyến nghị thực tế về hộ lý đỡ đẻ, giữ ấm chuồng úm và lịch tiêm phòng nhằm nâng cao an toàn sinh học cho các cơ sở chăn nuôi lợn quy mô công nghiệp.