Đặt vấn đề nghiên cứu: Tỷ giá hối đoái là một yếu tố rất quan trọng, nó không chỉ tác động đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp, mà còn ảnh hưởng đến niềm tin của dân chúng. Hiện nay, tỷ giá hối đoái biến động rất thường xuyên và thất thường, bởi nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Do đó, để đưa ra những chính sách can thiệp vào tỷ giá hối đoái là một trong những quyết định khó khăn của NHTW. Trên thực tế, các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều mô hình cũng như công cụ để các nhà điều hành chính sách tính toán, dự báo tỷ giá hối đoái và đưa ra những quyết sách phù hợp với tình hình của từng quốc gia.
Tuy nhiên, liệu có thật sự có khả năng dự đoán tỷ giá hối đoái hay không và trong số rất nhiều mô hình như vậy, thì mô hình dự đoán tỷ giá hối đoái nào thật sự có hiệu quả ở các nền kinh tế mới nổi ? 1.2 Lý do nghiên cứu: Tầm quan trọng của các nền kinh tế mới nổi đang ngày càng tăng cho nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, các nước này lại không nhận được sự quan tâm to lớn như các nền kinh tế công nghiệp hóa. Và bài nghiên cứu này góp phần vào việc nghiên 2 cứu ở các nền kinh tế mới nổi về các vấn đề khá cấp thiết trong cơ chế xác định tỷ giá hối đoái giúp đưa ra những chính sách điều hành hợp lý. Đây chính là nguyên nhân thôi thúc thực hiện đề tài này 1.3 Mục tiêu nghiên cứu: Bài nghiên cứu này nhằm mục đích nghiên cứu tỉ mỉ khả năng dự đoán tỷ giá hối đoái của 8 nền kinh tế mới nổi (Việt Nam, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Brazil, Colombia, Mexico) - các nước có khá nhiều sự tương đồng về chế độ chính sách tiền tệ.
Bài nghiên cứu kết hợp hai phương pháp tiếp cận đầy hứa hẹn mà đã được Moura và các cộng sự sử dụng để nghiên cứu vấn đề này. Đầu tiên là sử dụng hồi quy dữ liệu bảng để phân tích các chuỗi dữ liệu thời gian hạn chế và nâng cao hiệu quả dự báo. Sau đó nghiên cứu tỉ mỉ các mô hình tiền tệ nội sinh thực tế bằng cách kiểm tra một tập hợp thô các mô hình tỷ giá hối đoái trên cơ sở của quy luật Taylor (1993). Bài nghiên cứu này cũng nhằm mục đích trả lời các chỉ trích của Rogoff và Stavrakeva (2008) về khả năng dự đoán của mô hình tỷ giá hối đoái liên quan đến việc hiểu sai và sử dụng bị lệch hướng của thống kê ngoài mẫu.
Đặc biệt, xây dựng khoảng tin cậy thích hợp bootstrapped cho các số liệu thống kê ngoài mẫu từ Diebold và Mariano (1995) và Theil, tỷ số U của Theil.3 Câu hỏi nghiên cứu: - Khả năng dự đoán tỷ giá hối đoái ở các nền kinh tế mới nổi như thế nào ? - Các mô hình và phương pháp dự báo nào thật sự có hiệu quả để dự đoán tỷ giá hối đoái ở các nền kinh tế mới nổi ? - Cách thức mà chính sách tiền tệ được điều hành thì ảnh hưởng đến việc dự báo ngoài mẫu như thế nào ? - Việc điều hành chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế mới nổi ảnh hưởng như thế nào đến khả năng dự báo tỷ giá hối đoái ? 1.4 Vấn đề nghiên cứu: - kiểm định mối quan hệ giữa việc xác định tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ nội sinh được biểu diễn theo quy luật Taylor bằng việc tập trung vào một nhóm 8 nền kinh tế mới nổi trong đó có. - Thực hiện hồi quy dữ liệu bảng để thực hiện những ước tính hiệu quả hơn do bị giới hạn về mẫu. 3 - Sử dụng một tập hợp chắc chắn của các số liệu thống kê ngoài mẫu, kết hợp phân phối bootstrapped cho các thống kê của Diebold-Mariano và tỷ lệ U của Theil để dự báo.5 Bố cục của bài nghiên cứu: Bài nghiên cứu gồm có 8 phần chính. Phần đầu tiên là phần giới thiệu về đề tài.
Phần thứ hai là bằng chứng thực nghiệm, giới thiệu các bài nghiên cứu trước đây về khả năng dự đoán tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ ở các nền kinh tế mới nổi. Phần tiếp theo là cơ sở lý thuyết để hiểu được những nội dung chính của đề tài và khái niệm về các mô hình được sử dụng trong bài nghiên cứu. Phần thứ 4 là phần phương pháp luận của bài nghiên cứu gồm các phiên bản của mô hình dự báo tỷ giá theo quy luật Taylor và phương pháp dự báo. Phần thứ 5 là phần dữ liệu và mô tả cách tính các biến được sử trong mô hình ở phần trên.
Từ đó dẫn tới phần tiếp theo là phần kết quả sau khi chạy mô hình. Phần cuối cùng là phần kết luận của cả đề tài, từ đó nêu ra những hạn chế và hướng mở rộng của đề tài. Bằng chứng thực nghiệm: 2.1 Các bài nghiên cứu trước đây về khả năng dự đoán tỷ giá hối đoái: Vào đầu những năm 1970, các nền kinh tế công nghiệp hóa lớn thông qua chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và từ bỏ hệ thống Bretton Woods, thì các mô hình về tỷ giá hối đoái trở nên phổ biến. Các nghiên cứu thực nghiệm của Bilson (1978), Hodrick (1978) và Putnan và Woodburry (1980) đã tìm thấy các bằng chứng hỗ trợ cho các mô hình tỷ giá hối đoái: hệ số đáng kể với các dấu hiệu dự kiến, mô hình tốt trong mẫu phù hợp và kết quả khả quan trong các kiểm tra khả năng dự đoán.
Bắt đầu những năm 1980 với bài nghiên cứu hội thảo của Meese và Rogoff (1983), kết quả thực nghiệm đã có những thay đổi đáng kể. Tác giả đã sử dụng dữ liệu về tỷ giá hối đoái của Vương quốc Anh, Nhật Bản và Đức so với Mỹ, và đã đưa ra kết luận rằng: với một dự báo từ 1 đến 12 tháng, mô hình bước đi ngẫu nhiên thể hiện kém nhất so với các mô hình tỷ giá hối đoái ở thời điểm đó ( ví dụ như: mô hình giá linh hoạt, mô hình giá không theo kịp giá thị trường và mô hình hỗn hợp của Hooper và Morton (1982)). 4 Một loạt các nghiên cứu sau đó vào những năm 1990, như Mark (1995) đã sử dụng kỹ thuật sáng tạo Bootstrapping và dữ liệu tỷ giá hối đoái từ 1973 đến 1991 cho Canada, Đức, Nhật Bản và Thụy Sĩ so với đồng Dollar Mỹ đã tìm thấy hỗ trợ cho việc dự báo các mô hình tiền tệ tại khoảng thời gian từ quý 12 đến quý 14 đối với một số quốc gia và tuyên bố đảo ngược kết quả không có khả năng dự báo. Tuy nhiên, kết quả này đã bị chỉ trích từ Kilian (1999), ông đã chứng minh kết quả của Mark không được mạnh mẽ để thay đổi mẫu và cho rằng chúng phụ thuộc quá nhiều vào quá trình tạo ra dữ liệu giả định.
Hơn nữa, các học giả khác cũng đã chỉ trích Mark (1995) đã ngầm giả định rằng tỷ giá hối đoái và các nguyên tắc cơ bản tiền tệ là đồng liên kết. Như trong bài nghiên cứu của Berkowitz và Giorgianni (2001) đã đưa ra kết luận chỉ trích bài nghiên cứu của Mark (2005) : “ bằng việc áp đặt sự đồng liên kết giữa tỷ giá giao ngay và các yếu tố cơ bản của tiền tệ đã được nghĩ ra từ trước và thu được các giá trị thực nghiệm quan trọng dưới giả định này, đây là một sự giải thích về bằng chứng của mối quan hệ thống kê giữa các yếu tố cơ bản và tỷ giá hối đoái sai lệch về ý nghĩa.” Và ông cũng đã so sánh dự báo ngoài mẫu cho 4 tỷ giá hối đoái so với đồng dollar Mỹ được lấy từ hồi quy ở khoảng thời gian dài với các giá trị then chốt này và tìm được bằng chứng yếu về khả năng dự báo chủ yếu ở khoảng thời gian ngắn. Đến những năm 2000, thì các bài nghiên cứu có những kết quả không thể kết luận. Sarno và Taylor (2002) tuyên bố rằng "Các kết quả thực nghiệm có xu hướng rất yếu trong ý nghĩa rằng chúng khó có thể nhân rộng trong các mẫu hoặc các quốc gia khác nhau”.
Bài nghiên cứu của Cheung et al. (2005) đã thử nghiệm dự báo của các tỷ giá của các đồng dựa trên USD của Mỹ bao gồm đồng đô la Canada, Bảng Anh, Deutschemark, đồng yên Nhật và đồng franc Thụy Sĩ bằng cách sử dụng một phạm vi rộng lớn hơn của các mô hình hơn so với những người sử dụng trong những năm 1980 và 1990. Và đã đưa ra kết luận : “Mô hình/ đặc điểm kỹ thuật / tiền tệ kết hợp với nhau làm việc tốt trong một giai đoạn nhưng không nhất thiết phải làm việc tốt trong giai đoạn khác. Ví dụ, mô hình năng suất làm tốt cho tỷ lệ Mark Đức/ Yên Nhật theo xu hướng của sự thay đổi và mức độ thống nhất (mặc dù không phải bởi các tiêu chuẩn MSE), nhưng cùng một kết luận không thể áp dụng với bất kỳ tỷ giá hối đoái khác.
Có lẽ đó là ý nghĩa mà rút ra từ nghiên cứu này đặt nền móng cho nghiên cứu trong tương lai”. 5 Vào nửa sau những năm 2000, thật đáng ngạc nhiên khi có một số lượng lớn các nghiên cứu tuyên bố đã cung cấp bằng chứng về khả năng dự đoán tỷ giá hối đoái ngoài mẫu. Trong đó có bài nghiên cứu của Engel, Mark và West (2007), nhấn mạnh tầm quan trọng của các quy tắc chính sách tiền tệ, sử dụng các mô hình tỷ giá hối đoái được xác định bởi giá trị hiện tại được kỳ vọng của các nguyên tắc cơ bản, khoảng cách dữ liệu lâu hơn và dữ liệu bảng tạo hy vọng nhiều hơn cho sự tồn tại của khả năng dự báo tỷ giá hối đoái. Hầu hết các bài nghiên cứu này tập trung vào hai phương pháp tiếp cận thay thế.
Một số nhà nghiên cứu sử dụng tập hợp dữ liệu bảng lớn hơn từ một tập hợp các quốc gia tương tự. Sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị và phép tích phân trên dữ liệu bảng, các nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về khả năng dự báo mô hình tiền tệ, đặc biệt là với khoảng thời gian dài hơn. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đã sử dụng các mô hình tiền tệ cũ của những năm 1970 và 1980 (ví dụ, Groen, 2005; Mark và Sul, năm 2001; Rapach và Wohar, 2004).