Chương 1:Các điều kiện tự nhiên và hiện trạng 2/. Chương 2:Các lý thuyết về tính toán, quy hoạch, tố chức giao thông 3/. Chương 3:Nghiên cứu tính toán bố trí hệ thống giao thông đường bộ phục vụ Khu đô thị - công nghiệp Long Hậu 3 Kết luận và kiến nghị Phần phụ lục 5 CHƢƠNG 1 CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HIỆN TRẠNG 1.1 Gıớı thıệu chung về huyện Cần Gıuộc và khu đông huyện Cần Giuộc 1.1 Gıớı thıệu chung về huyện Cần Gıuộc [21] Cần Giuộc là một huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Long An, giáp với khu vực phía Nam thành phố Hồ Chí Minh, thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam.Trong quy hoạch xây dựng vùng thành phố Hồ Chí Minh, về đường bộ Cần Giuộc là cửa ngõ của TP. HCM tới các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long qua quốc lộ 50, về đường thủy Cần Giuộc kết nối Hình 1.
Vị trí tỉnh Long An các tỉnh phía Nam với biển Đông qua cửa sông Soài Rạp và hệ thống đường thủy khu vực là địa bàn thuộc vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, nằm ở vành đai vòng ngoài của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,. Những điều kiện về tự nhiên địa lý và điều kiện kinh tế xã hội đã giúp cho huyện Cần Giuộc có lợi thế thuận tiện cho việc lưu thông hàng hoá trong và ngoài nước, có điều kiện tiếp thu nhanh và ứng dụng tốt khoa học kỹ thuật, có nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội, có khả năng thu hút các nhà đầu tư lớn từ Tp Hồ Chí Minh và nước ngoài. Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để Cần Giuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thành vùng kinh tế trọng điểm. Vị trí địa lý của huyện là một lợi thế so sánh hàng đầu, là cửa ngõ giao lưu hàng hóa của huyện, của tỉnh.
Tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh - một thị trường lớn tiêu thụ các sản phẩm, lương thực, thực phẩm. Điều kiện địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi phát triển công nghiệp, nông nghiệp đa dạng với các loại sản phẩm chủ lực như lương thực, rau xanh, thủy sản. Huyện có khả năng thu hút đầu tư từ thành phố Hồ Chí Minh, đầu tư nước 6 ngoài nếu hệ thống hạ tầng được đầu tư đúng mức. Đồng thời huyện cũng có tiềm năng phát triển dịch vụ vận tải, nhất là vận đường sông, đường biển.
Là huyện đông dân, nguồn lao động khá dồi dào, cần cù, kỹ năng lao động khá, có khả năng tiếp cận các phương pháp sản xuất mới. Chủ trương phát triển khu vực phía Nam thành phố Hồ Chí Minh, nhất là khu công nghiệp Hiệp Phước mở rộng khả năng tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập người lao động trong vùng. Vị trí huyện Cần Giuộc Ranh giới : Phía Đông : giáp huyện Nhà Bè TP. Hồ Chí Minh.
Phía Tây : giáp huyện Cần Đước và huyện Bến Lức. Phía Nam : giáp huyện Cần Đước. Phía Bắc : giáp huyện Bình Chánh TP. Hồ Chí Minh.
Diện tích tự nhiên của huyện là 210,1980km2. Về đơn vị hành chánh toàn huyện có 1 thị trấn và 16 xã, chia làm 2 tiểu vùng: Tiểu vùng thượng bao gồm 9 xã và thị trấn: Thị trấn Cần Giuộc, Phước Lý, Long Thượng, Phước Hậu, Mỹ Lộc, Phước Lâm, Thuận Thành, Long An, Tân Kim, 7 Trường Bình. Tiểu vùng này đã được ngọt hóa đảm bảo nguồn nước cho phát triển sản xuất nên phát triển khá mạnh, nhất là nông nghiệp. Tiểu vùng hạ (Khu Đông huyện Cần Giuộc) gồm 7 xã: Long Hậu, Phước Lại, Phước Vĩnh Tây, Long Phụng, Đông Thạnh, Phước Vĩnh Đông và Tân Tập.
Tiểu vùng này bị nhiễm phèn nặng nên còn rất khó khăn trong sản xuất và đời sống. Hệ thống các đô thị trong vùng: Diện tích tự nhiên của huyện Cần Giuộc là 210,1980 km2. Về đơn vị hành chánh toàn huyện có 1 thị trấn và 16 xã, trong đó thị trấn Cần Giuộc là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện. Các đơn vị còn lại là: xã Phước Lý, xã Long Thượng, xã Phước Hậu, xã Mỹ Lộc, xã Phước Lâm, xã Thuận Thành, xã Long Hậu, xã Tân Kim, xã Trường Bình, xã Long An, xã Phước Lại, xã Phước Vĩnh Tây, xã Long Phụng, xã Đông Thạnh, xã Phước Vĩnh Đông, xã Tân Tập.
Thị trấn Cần Giuộc, vai trò là trung tâm hành chính của toàn huyện nhìn chung quá trình phát triển còn mang nhiều bất cập. Cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ.Phần lớn đều là các điểm dân cư lâu đời với động lực phát triển là thương mại dịch vụ buôn bán nhỏ, và là các đô thị mang chức năng hành chính cấp huyện.Dân cư tập trung với mật độ cao nhất trong vùng. Các đơn vị hành chính còn lại gồm 16 xã: nhìn chung quá trình phát triển cho thấy sự phân bố tập trung và phân tán các khu dân cư nông thôn trong huyện theo đặc trưng về địa hình và nhu cầu khai thác đất đai, chủ yếu vẫn là hai hình thái chính : Hình thái phân bố dân cư theo tuyến: - Với mô hình nhà ở được bố trí cặp theo sông ( kênh rạch) hoặc đường bộ, phía sau nhà là khu phụ. Thường nhà ở được bố trí 1 lớp, khoảng cách giữa các nhà ở tùy thuộc vào điều kiện và mật độ cư trú của từng khu vực.
Đây là đặc điểm lớn trong phân bố dân cư nông thôn vùng ĐBSCL. Dân cư sống phân tán trên các sông, kênh hoặc trên các tuyến tỉnh lộ. Do giao thông thủy là chủ yếu nên nhà ở thường quay ra sông, kênh với mức độ độc lập nhất định. Sơ đồ hiện trạng phân bố dân cư và sử dụng đất Hình thái phân bố dân cư theo cụm: - Với mô hình nhà ở được bố trí quần cư kết hợp với vườn cây quanh các sông ( kênh rạch) hoặc đường bộ, phía sau nhà là khu phụ.
Thường nhà ở được bố trí 1 lớp, khoảng cách giữa các nhà ở tùy thuộc vào điều kiện và mật độ cư trú của từng khu vực. Đây cũng là mô hình ở tương đối phổ biến tại các vùng cửa các sông lớn. Dân cư sống quy tụ thành các xóm ấp. Do phụ thuộc vào giao thông thủy, bộ là chủ yếu nên nhà ở thường quay ra sông, kênh, đường giao thông với mức độ độc lập nhất định.Hiện trạng các điểm dân cư nông thôn: - Tại huyện Cần Giuộc thuộc tiểu vùng Hạ của Long An, vùng cửa các con sông lớn gần biển là sông Nhà Bè và sông Soài Rạp dân cư tới định cư rất sớm.
Nhờ có điều kiện đất đai, giao thông đường thuỷ thuận lợi v.cư dân ở đây đã nhanh chóng phát triển thành các cộng đồng tương đối đông đúc. - Các trung tâm xã đã hình thành với khu dân cư tập trung cùng với các hoạt động thương mại và dịch vụ. Các công trình phúc lợi công cộng như trường học, trạm xá chợ đã được xây dựng tại khu trung tâm. Lý do này tạo nên những khó khăn 9 cho các khu vực dân cư ở xa đặc biệt đối với các cháu học sinh và người bệnh, việc tiếp cận các cơ sở phúc lợi này càng gặp trở ngại hơn.
- Ven các sông kênh rạch lớn đã hình thành các tuyến giao thông đường bộ liên xã nối liền các khu dân cư và các trung tâm. Các tuyến giao thông đường bộ này có rất nhiều ý nghĩa trong đời sống thường nhật của người dân. - Một số khu vực nằm sâu bên trong đồng, dân cư sống phân tán hơn. Có một số hộ sống tương đối cách biệt với các khu dân cư tập trung.
- Hiện nay dân cư vùng này đang có xu hướng chuyển dần đến các vùng ven các Quốc lộ, Tỉnh lộ và các đô thị, khu công nghiệp của huyện Cần Giuộc. Sơ đồ hiện trạng các điểm dân cư nông thôn Khu vực ven các Quốc lộ, Tỉnh lộ - Ngoài các điều kiện thuận lợi về đất đai, giao thông thủy bộ, điều kiện cơ sở hạ tầng xã hội và công ăn việc làm, khu vực quốc lộ 50 chạy qua đã tạo thêm điều kiện tối ưu cho việc tập trung và phát triển các khu dân cư. - Nhiều hộ nông thôn ven đường bên cạnh phát triển nghề nông truyền thống nay đã có thêm nghề dịch vụ. Các khu dân cư tại đây đã tập trung hơn trong các ấp lớn.
Bên cạnh thị trấn Cần Giuộc, nơi dân cư tập trung cao, trung tâm xã nằm trên các đầu mối giao thông thuỷ bộ đã hình thành các khu dân cư tập trung lớn.Giới thiệu khu Đông huyện Cần Giuộc: Dự án Khu đô thị - công nghiệp Long Hậu 3 thuộc khu Đông huyện Cần Giuộc, việc đầu tư phát triển dự án này có ảnh hưởng lớn đến toàn khu vực khu Đông huyện Cần Giuộc. Do đó, để có thể xem xét tính toán quy hoạch hệ thống giao thông đô thị cũng như hệ thống hạ tầng kỹ thuật của dự án được đồng bộ, khai thác được các lợi thế tiềm năng, chúng ta cần xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa dự án này với toàn bộ khu Đông huyện Cần Giuộc. Vị trí địa lý và giới hạn:[22] - Vị trí khu Đông huyện Cần Giuộc (thuộc tiểu vùng Hạ huyện Cần Giuộc tỉnh Long An) bao gồm phạm vi 7 xã: Long Hậu, Phước Lại, Phước Vĩnh Tây, Long Phụng, Đông Thạnh, Phước Vĩnh Đông và Tân Tập có liên kết với vùng lân cận, với diện tích tự nhiên 11. VỊ TRÍ KHU ĐẤT Hình 1.
Vị trí khu Đông huyện Cần Giuộc - Ranh giới : + Phía Đông: Giáp huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh và sông Soài Rạp. + Phía Tây: Giáp sông Cần Giuộc. + Phía Nam: Giáp sông Cần Giuộc. + Phía Bắc: Giáp huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh.Hiện trạng khu Đông huyện Cần Giuộc:[22] (Xem Phụ lục 1) a.Đánh giá tổng quan hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội Tình hình phát triển kinh tế xã hội khu Đông Cần Giuộc tương đối thuận lợi, thu nhập bình quân đầu người là 5,6 triệu đồng.
Cơ cấu kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá. Tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp là 20%, công nghiệp-xây dựng 13%, thương mại dịch vụ 13%. Cơ cấu kinh tế khu Đông huyện Cần Giuộc hiện nay được xác định là Nông nghiệp, thủy hải sản, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế các năm gần nay khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp-dịch vụ.