Luận Văn Thạc Sĩ Về Tổ Chức Không Gian Kiến Trúc Cảnh Quan Đô Thị Pleiku Định Hướng Đến Năm 2030

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quy hoạch đô thị tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan đô thị pleiku định hướng đến năm 2030, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN HIỆN HỮU THÀNH PHỐ PLEIKU

1.1. Quá trình hình thành, phát triển của đô thị Pleiku

1.2. Lược sử quá trình phát triển đô thị Pleiku

1.3. Buôn làng truyền thống trong đô thị Pleiku

1.4. Quá trình hình thành và phát triển buôn làng truyền thống trong đô thị Pleiku

1.5. Đặc trưng cấu trúc không gian buôn làng truyền thống trong đô thị Pleiku

1.6. Hiện trạng xây dựng các khu chức năng trong khu trung tâm TP

1.6.1. Trung tâm hành chính

1.6.2. Trung tâm kinh tế - tài chính

1.6.3. Trung tâm văn hóa – thể thao

1.6.4. Trung tâm dịch vụ (dịch vụ - du lịch, y tế)

1.7. Hiện trạng xây xanh, mặt nước, quảng trường

1.8. Hiện trạng giao thông

1.9. Hiện trạng quy hoạch khu dân cư

1.10. Đánh giá thực trạng không gian kiến trúc cảnh quan TP

1.11. Hiện trạng không gian cảnh quan tự nhiên của đô thị Pleiku

1.12. Hiện trạng các công trình kiến trúc

1.13. Hoạt động đô thị

1.14. Đánh giá không gian kiến trúc cảnh quan đô thị Pleiku

1.15. Giới thiệu định hướng phát triển và phân khu chức năng

1.15.1. Hướng phát triển

1.15.2. Tổ chức không gian đô thị

1.15.3. Định hướng quy hoạch cải tạo xây dựng hạ tầng kỹ thuật

1.16. Kết luận chương I

2. CHƯƠNG II: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUY HOẠCH KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN THÀNH PHỐ PLEIKU

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan TP

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1. Vị trí địa lý
2.1.1.2. Địa hình địa mạo
2.1.1.3. Môi trường
2.1.1.4. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên

2.1.2. Hiện trạng kinh tế - xã hội

2.1.2.1. Hiện trạng kinh tế
2.1.2.2. Hiện trạng xã hội
2.1.2.3. Hiện trạng sử dụng đất

2.2. Các cơ sở lý luận về quy hoạch tổ chức không gian đô thị

2.2.1. Lý thuyết Đô thị học cảnh quan

2.2.2. Lý luận hình ảnh đô thị của Kevin Lynch

2.2.3. Cảm thụ thị giác

2.2.4. Vấn đề phát triển đô thị bền vững

2.2.5. Giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc bản địa

2.2.6. Cơ sở pháp lý định hướng phát triển thành phố Pleiku

2.2.6.1. Pleiku trong đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Pleiku - Tỉnh Gia Lai đến năm 2030 - tầm nhìn 2050
2.2.6.2. Các văn bản pháp luật và quy chuẩn tiêu chuẩn có liên quan

2.2.7. Cơ sở thực tiễn về tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan trong quy hoạch đô thị ở một số thành phố tại Việt Nam và trên Thế giới

2.2.8. Kinh nghiệm tận dụng yếu tố địa hình trong tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan một số nước trên Thế Giới

2.2.9. Kinh nghiệm tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan các đô thị tại Việt Nam

2.2.10. Một số nguyên tắc thiết kế khai thác yếu tố địa hình tham khảo

2.3. Kết luận chương II

3. CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN THÀNH PHỐ PLEIKU

3.1. Đánh giá thực trạng đô thị Pleiku

3.1.1. Quan điểm tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan thành phố Pleiku

3.1.2. Mục tiêu phát triển và một số nguyên tắc cơ bản trong việc tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan khu trung tâm thành phố Pleiku

3.1.2.1. Mục tiêu phát triển
3.1.2.2. Một số nguyên tắc cơ bản trong việc tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan thành phố Pleiku

3.2. Đề xuất định hướng phát triển cơ cấu quy hoạch và không gian kiến trúc cảnh quan thành phố Pleiku theo hướng phát triển bền vững

3.3. Đề xuất các giải pháp chung tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan đô thị Pleiku

3.3.1. Đề xuất giải pháp phát triển mô hình không gian đô thị Pleiku

3.3.1.1. Giải pháp phát triển mô hình không gian đô thị Pleiku
3.3.1.2. Giải pháp về sử dụng đất
3.3.1.3. Trục cảnh quan
3.3.1.4. Tạo cảnh quan điểm nhấn

3.3.2. Đề xuất giải pháp tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan đô thị Pleiku

3.3.2.1. Không gian cảnh quan tự nhiên
3.3.2.2. Không gian cảnh quan nhân tạo
3.3.2.3. Các hoạt động của đô thị
3.3.2.4. Giải pháp tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan ở một số trục đường chính trong TP

3.4. Kết luận chương III

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH

LỜI CẢM ƠN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quy Hoạch Đô Thị Pleiku Đến Năm 2030

Quy hoạch đô thị Pleiku đến năm 2030 là một chủ đề quan trọng, phản ánh sự phát triển bền vững và hiện đại của thành phố. Pleiku, với vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên phong phú, đang hướng tới việc tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan một cách hợp lý. Mục tiêu chính là tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho cư dân, đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương.

1.1. Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Đô Thị Pleiku

Pleiku đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ một buôn làng truyền thống đến một đô thị hiện đại. Quá trình này không chỉ phản ánh sự thay đổi về mặt kiến trúc mà còn về văn hóa và xã hội của người dân nơi đây.

1.2. Đặc Điểm Tự Nhiên Và Kinh Tế Của Pleiku

Đặc điểm địa hình đồi núi và khí hậu ôn hòa của Pleiku tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và du lịch. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên cần được thực hiện một cách bền vững để bảo vệ môi trường.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Quy Hoạch Đô Thị Pleiku

Mặc dù có nhiều tiềm năng, Pleiku vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong quy hoạch đô thị. Sự phát triển nhanh chóng của đô thị đã dẫn đến việc mất đi bản sắc văn hóa và cảnh quan tự nhiên. Cần có những giải pháp hiệu quả để giải quyết những vấn đề này.

2.1. Áp Lực Từ Sự Phát Triển Đô Thị

Sự gia tăng dân số và nhu cầu về nhà ở đã tạo ra áp lực lớn lên hạ tầng đô thị. Điều này dẫn đến tình trạng quá tải và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của cư dân.

2.2. Mất Đi Bản Sắc Văn Hóa Địa Phương

Nhiều buôn làng truyền thống đang dần bị xóa bỏ, làm mất đi bản sắc văn hóa độc đáo của Pleiku. Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa là rất cần thiết trong quy hoạch đô thị.

III. Phương Pháp Tổ Chức Không Gian Kiến Trúc Cảnh Quan

Để tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp quy hoạch hiện đại. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện hạ tầng mà còn bảo tồn các giá trị văn hóa và tự nhiên.

3.1. Định Hướng Quy Hoạch Bền Vững

Quy hoạch bền vững là một trong những mục tiêu hàng đầu trong phát triển đô thị Pleiku. Cần có các chính sách khuyến khích sử dụng tài nguyên một cách hợp lý và bảo vệ môi trường.

3.2. Tổ Chức Không Gian Cảnh Quan Đô Thị

Việc tổ chức không gian cảnh quan cần được thực hiện một cách đồng bộ, kết hợp giữa không gian xanh và không gian xây dựng. Điều này sẽ tạo ra một môi trường sống hài hòa cho cư dân.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Trong Quy Hoạch Đô Thị Pleiku

Các giải pháp quy hoạch cần được áp dụng thực tiễn để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Việc tham khảo kinh nghiệm từ các đô thị khác cũng là một yếu tố quan trọng.

4.1. Kinh Nghiệm Từ Các Đô Thị Khác

Nghiên cứu các mô hình quy hoạch thành công từ các đô thị khác có thể giúp Pleiku rút ra bài học quý giá. Những kinh nghiệm này có thể áp dụng để cải thiện quy hoạch đô thị tại Pleiku.

4.2. Đánh Giá Hiện Trạng Quy Hoạch

Đánh giá hiện trạng quy hoạch hiện tại là cần thiết để xác định những điểm mạnh và yếu trong tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan. Từ đó, có thể đưa ra các giải pháp cải thiện phù hợp.

V. Kết Luận Và Định Hướng Tương Lai Cho Pleiku

Kết luận về quy hoạch đô thị Pleiku đến năm 2030 cho thấy sự cần thiết phải có một chiến lược phát triển bền vững. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc bảo tồn bản sắc văn hóa và phát triển kinh tế đồng bộ.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Quy Hoạch Bền Vững

Quy hoạch bền vững không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân. Đây là yếu tố quyết định cho sự phát triển lâu dài của Pleiku.

5.2. Định Hướng Phát Triển Đô Thị Trong Tương Lai

Định hướng phát triển đô thị trong tương lai cần phải linh hoạt và thích ứng với những thay đổi của môi trường và xã hội. Cần có sự tham gia của cộng đồng trong quá trình quy hoạch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ quy hoạch đô thị tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan đô thị pleiku định hướng đến năm 2030

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN HIỆN HỮU THÀNH PHỐ PLEIKU 1. Quá trình hình thành, phát triển của đô thị Pleiku 1. Lược sử quá trình phát triển đô thị Pleiku [23] Tỉnh Gia Lai là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc J’rai, Bahnar, tập quán sinh sống theo hình thức buôn làng. Sau khi thực dân Pháp thiết lập bộ máy cái trị tại đây, với nhiều lần thay đổi, sát nhập và chia tách để thành lập các đơn vị hành chính trên vùng đất Tây nguyên.

Ngày 24/5/1932, tỉnh Pleiku được thành lập (gồm đại lý Pleiku và đại lý Cheo Reo) theo Nghị định Toàn quyền Đông Dương. Năm 1945, sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, tỉnh được chính quyền cách mạng gọi là tỉnh Gia Lai. Tháng 6/1946, thực dân Pháp chiếm lại Gia Lai và gọi tên tỉnh Pleiku. Giai đoạn từ 1945-1975, chính quyền cách mạng vẫn giữ tên tỉnh Gia Lai, nhưng địa giới hành chính có nhiều thay đổi, qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử.

Ngày 20/9/1945, theo Nghị quyết của Bộ Chính trị, hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum được hợp nhất tên gọi là Tỉnh Gia Lai – Kon Tum. Ngày 12/8/1945, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khóa VIII, Gia Lai – Kon Tum tách thành hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Năm 1999, thị xã Pleiku được nâng lên thành phố (Đô thị loại III), thuộc tỉnh Gia Lai. Pleiku được công nhận là đô thị loại II.

Đây là đô thị trung tâm của Bắc Tây Nguyên, có vị trí địa lý quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng.1) Hiện nay TP. Pleiku có diện tích theo địa giới hành chính là 26. Gồm 14 phường: Diên Hồng, Ia Kring, Hội Thương, Hoa Lư, tây Sơn, Thống Nhất, Hội Phú, Yên Đỗ, Yên Thế, Trà Bá, Thắng Lợi, Chi Lăng, Phù Đổng, Đống Đa, và 9 xã: Biển Hồ, Chư Hrong, An Phú, Trà Đa, Gào, Diên Phú, Tân Sơn, Ia Kênh, Chư Á (xem hình 1. Buôn làng truyền thống trong đô thị Pleiku 1.

Quá trình hình thành và phát triển của buôn làng truyền thống trong đô thị Pleiku [2] Phần lớn các buôn làng trong TP. Pleiku đều được định cư, xây dựng từ thế kỷ XIX đến trước thời kỳ Pháp thuộc. Làng Plei Kép, Plei Ro đã hình thành từ rất lâu (1930). Khu cư trú của dân tộc J’rai, Bahnar chủ yếu ở địa hình thung lũng, các dãy đồi đỉnh tròn, dốc thoải.

Ban đầu các buôn làng hình thành gắn liền với nguồn nước, cảnh quan thiên nhiên có sẵn. Kiến trúc nhà ở trong buôn của người J’rai là nhà sàn, nhà rông là công trình công cộng nằm ở trung tâm buôn, nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo, sinh hoạt cộng đồng… Khi Pháp đến Tây Nguyên đã chọn những vùng đất màu mỡ, nhiều buôn làng được Pháp và Mỹ ngụy dồn từ vùng ven về khu vực đô thị để định cư (xem Hình 1. Chính quyền Pháp đầu tư kinh phí cho việc QHXD bảo tồn buôn làng truyền thống: quy hoạch, san ủi mặt bằng, làm đường, hỗ trợ dân làm nhà ở, nhà rông. Việc kế thừa và phát huy giá trị truyền thống trong cách tổ chức quy hoạch buôn làng của mỗi dân tộc làm cho đồng bào dễ chấp nhận.

Ưu điểm rõ nét là các buôn làng được QHXD tôn trọng hình thái làng bản truyền thống, từ cách bố trí không gian khu ở, giao thông, khu công cộng đến kiến trúc nhà sàn, tổ chức sinh hoạt, sản xuất cũng theo phong tục tập quán. Chính quyền Pháp đầu tư tương đối bài bản các làng nhằm phục vụ chiến tranh. Quá trình đô thị hóa đã ảnh hưởng đến các buôn làng truyền thống khá nhiều, làm phá vỡ cấu trúc hầu hết các buôn làng trong đô thị, hiện nay tại TP. Pleiku chỉ còn lại 2/42 làng gần như còn giữ được nhiều giá trị (làng Plei Ốp – phường Hoa Lư, làng Plei Brel – xã Biển Hồ) (xem Hình 1.

Đặc trưng của các buôn làng dân tộc là về quy hoạch: theo truyền thống chọn đất, chọn hướng, giữ gìn tôn tạo địa hình, cảnh quan. Khi xây dựng buôn làng tuyệt đối tôn trọng địa hình cảnh quan, không san ủi đất, không chặt cây, khai thác thiên nhiên, dựa vào điều kiện tự nhiên. Hầu hết các buôn làng ở TP. Pleiku vẫn còn duy trì phổ biến hình thức nhà vườn cho đến ngày nay, từng hộ đều có khuôn viên cây xanh, cảnh quan hài hòa….

Cách thức tổ chức không gian trong quy hoạch buôn 11 làng của đồng bào rất gần gũi với nguyên lý quy hoạch xây dựng tiểu khu nhà ở, nhóm nhà ở của kiến trúc hiện đại (các dạng quy hoạch như: ô bàn cờ, vòng tròn hướng tâm, theo tuyến, xương cá…). Đặc trưng về kiến trúc truyền thống là nhà sàn, mái với độ dốc lớn, vật liệu xây dựng chủ yếu là gỗ, tranh, tre, nứa, lá… mặt bằng nhà là không gian rộng thoáng rất ít vách ngăn, ít mở cửa, phù hợp với điều kiện thời tiết của Gia Lai (một ngày có 4 mùa, dao động nhiệt 15-17 độ, quanh năm mưa dầm nắng bụi). Nguyên tắc tổ chức các buôn làng truyền thống là hầu hết các làng có diện tích trung bình khoảng 15 – 20ha, làng lớn đến 30 – 40ha, bình quân diện tích mỗi nhà có diện tích nhà và vườn khoảng 2000-5000 m2, vườn chiếm 0.5ha bao quanh nhà. Hệ thống giao thông trong làng bố trí kiểu ô bàn cờ, mỗi cạnh 50 – 100m.

Nhà Rông là nơi sinh hoạt cộng đồng của đồng bào trong làng. Hiện nay đường nội bộ trong làng được mở rộng, khang trang, nhà ở thay vách nứa bằng gỗ hay vách trát đất ấm cúng hơn, mái tranh được thay bằng mái ngói hay mái tôn, nhưng tổ chức việc ăn, ở, sinh hoạt và sản xuất khá đồng bộ theo phong tục tập quán cổ truyền (xem Hình 1. Các làng tại Pleiku có chung đặc điểm là hình thành lâu đời trước khi hoặc cùng với lịch sử hình thành đô thị, tới nay tất cả các làng này đã thực sự gắn bó với quá trình hình thành và phát triển của đô thị,góp phần làm nên sắc thái đô thị “Phố núi” cho Pleiku. Đặc trưng cấu trúc không gian buôn làng truyền thống trong đô thị Pleiku a.

Không gian quy hoạch kiến trúc làng: là không gian khép kín, trước đây có hàng rào bao bọc xung quanh, có 2 cổng ra vào làng thường đặt theo hướng Đông – Tây. Các làng của người Jrai ở theo kiểu chia lô thửa với hệ thống đường trong làng mạch lạc, các hộ gia đình có khuôn viên ngăn cách bằng hệ thống rào cây xanh; Đối với người Bahnar thì hệ thống đường chủ yếu nối trực tiếp các căn nhà, các gia đình không có khuôn viên ngăn cách với nhau rõ ràng. Pleiku hiện có: 39 làng của dân tộc Jrai và 3 làng của dân tộc Bahnar). 12 - Không gian bên trong là không gian đóng, nhiều chức năng tổng hợp bao gồm: không gian sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng (nhà rông, sân lễ hội, nhà dài…); Không gian ở; Không gian sản xuất; Không gian sinh hoạt thể dục thể thao và vui chơi.

- Không gian kiến trúc quy hoạch bên ngoài làng là không gian mở, liên kết và hài hòa với không gian đô thị xung quanh. Điểm nhấn quan trọng của làng là nhà Rông. - Đặc trưng trong quy hoạch làng, đó là truyền thống chọn đất, hướng, giữ gìn và tôn tạo địa hình, cảnh quan… Cách thức tổ chức không gian trong quy hoạch buôn làng gần gũi với nguyên lý quy hoạch xây dựng tiểu khu nhà ở, xóm nhà ở của kiến trúc hiện đại (các dạng: ô bàn cờ, vòng tròn hướng tâm, xương cá…) (xem Hình 1. Đặc trưng không gian ở truyền thống: Loại hình nhà ở của người Jrai: có khuôn viên rõ ràng: nhà sàn là trung tâm, bố cục khuôn viên nhà ở thường theo một kiểu giống nhau.

Hình thái làng kiểu này thường có trục chính và từ trục chính hình thành mạng đường ô cờ với các khuôn viên hình vuông hoặc chữ nhật có diện tích một ngàn đến vài ngàn mét vuông. Khuôn viên của nhà ở có thể chia thành 3 loại: Loại lớn > 5.000m2; Loại trung bình từ 2.000m2; Loại nhỏ từ 500-2. Trong khuôn viên khu đất có: Nhà sàn, kho thóc, vườn tạp, cây ăn quả, cổng hàng rào bằng cây xanh hoặc tre nứa, có nhà dùng kẽm gai.4) Loại hình nhà ở của người Bahnar: Không có khuôn viên riêng, ranh giới giữa các nhà không rõ ràng, các nhà sàn được bố trí san sát nhau, nối với nhau bằng những con đường mòn hình thành tự nhiên. Trong làng hầu như rất ít cây xanh, “vườn rừng” thì nằm cách xa làng 1-2 km, hoặc liền kề với khu đất của làng.

Các trục đường chính của làng thường theo kiểu vòng tròn hướng tâm, rẻ quạt… nhà ở cùng quay về một hướng Bắc Nam hoặc hướng về nhà Rông. Diện tích bình quân mỗi hộ khoảng vài trăm mét vuông.4) 13 Đặc trưng về kiến trúc truyền thống là nhà sàn, mái có độ dốc lớn, vật liệu chủ yếu là gỗ, tranh, tre, nứa, lá… mặt bằng nhà là không gian rộng thoáng rất ít vách ngăn, ít mở cửa, phù hợp với điều kiện thời tiết. Bên cạnh đó còn có nhà rông, nhà mồ, tượng điêu khắc gỗ, cây nêu trong tổ chức lễ hội, chi tiết hoa văn độc đáo…và phong tục, tập quán ở quây quần với ý thức cộng đồng cao. Đặc trưng không gian công cộng truyền thống: Trong mỗi làng đều có các công trình công cộng và không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống như: Nhà rông, sân lễ hội, khu nhà mồ, sân hoạt động thể dục thể thao và các trò chơi dân gian, giọt nước, cổng làng… là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh hoạt văn hóa, lễ thức tôn giáo, phong tục tập quán của người dân trong làng, đây là cảnh hoạt động trong cảnh quan nhân tạo.5) Các không gian công cộng đặc trưng của làng có thể kể đến là: - Không gian văn hóa cồng chiên (Di sản văn hóa thế giới): Thường rất linh hoạt, không cố định ở một vị trí nào.

Có thể ở trước nhà rông, ở sân lễ hội, quanh cây nêu ngày tết hoặc lễ đâm Trâu, cũng có thể ngay trong khu nhà mồ trong lễ bỏ mả. - Không gian diễn ra các nghi thức tôn giáo và quyết định những công việc quan trọng của cả làng: Chủ yếu là ở nhà rông, hoặc trên sân lễ hội. - Giọt nước: là nơi lấy nước, tắm giặt của cả làng, thường nằm ở bìa làng. - Khu nhà mồ và tượng mồ: đây là nơi khá đặc biệt và riêng của các cư dân Tây Nguyên.

Khu nhà mồ thường đặt ở phía Tây của làng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ