CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN HIỆN HỮU THÀNH PHỐ PLEIKU 1. Quá trình hình thành, phát triển của đô thị Pleiku 1. Lược sử quá trình phát triển đô thị Pleiku [23] Tỉnh Gia Lai là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc J’rai, Bahnar, tập quán sinh sống theo hình thức buôn làng. Sau khi thực dân Pháp thiết lập bộ máy cái trị tại đây, với nhiều lần thay đổi, sát nhập và chia tách để thành lập các đơn vị hành chính trên vùng đất Tây nguyên.
Ngày 24/5/1932, tỉnh Pleiku được thành lập (gồm đại lý Pleiku và đại lý Cheo Reo) theo Nghị định Toàn quyền Đông Dương. Năm 1945, sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, tỉnh được chính quyền cách mạng gọi là tỉnh Gia Lai. Tháng 6/1946, thực dân Pháp chiếm lại Gia Lai và gọi tên tỉnh Pleiku. Giai đoạn từ 1945-1975, chính quyền cách mạng vẫn giữ tên tỉnh Gia Lai, nhưng địa giới hành chính có nhiều thay đổi, qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử.
Ngày 20/9/1945, theo Nghị quyết của Bộ Chính trị, hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum được hợp nhất tên gọi là Tỉnh Gia Lai – Kon Tum. Ngày 12/8/1945, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khóa VIII, Gia Lai – Kon Tum tách thành hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Năm 1999, thị xã Pleiku được nâng lên thành phố (Đô thị loại III), thuộc tỉnh Gia Lai. Pleiku được công nhận là đô thị loại II.
Đây là đô thị trung tâm của Bắc Tây Nguyên, có vị trí địa lý quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng.1) Hiện nay TP. Pleiku có diện tích theo địa giới hành chính là 26. Gồm 14 phường: Diên Hồng, Ia Kring, Hội Thương, Hoa Lư, tây Sơn, Thống Nhất, Hội Phú, Yên Đỗ, Yên Thế, Trà Bá, Thắng Lợi, Chi Lăng, Phù Đổng, Đống Đa, và 9 xã: Biển Hồ, Chư Hrong, An Phú, Trà Đa, Gào, Diên Phú, Tân Sơn, Ia Kênh, Chư Á (xem hình 1. Buôn làng truyền thống trong đô thị Pleiku 1.
Quá trình hình thành và phát triển của buôn làng truyền thống trong đô thị Pleiku [2] Phần lớn các buôn làng trong TP. Pleiku đều được định cư, xây dựng từ thế kỷ XIX đến trước thời kỳ Pháp thuộc. Làng Plei Kép, Plei Ro đã hình thành từ rất lâu (1930). Khu cư trú của dân tộc J’rai, Bahnar chủ yếu ở địa hình thung lũng, các dãy đồi đỉnh tròn, dốc thoải.
Ban đầu các buôn làng hình thành gắn liền với nguồn nước, cảnh quan thiên nhiên có sẵn. Kiến trúc nhà ở trong buôn của người J’rai là nhà sàn, nhà rông là công trình công cộng nằm ở trung tâm buôn, nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo, sinh hoạt cộng đồng… Khi Pháp đến Tây Nguyên đã chọn những vùng đất màu mỡ, nhiều buôn làng được Pháp và Mỹ ngụy dồn từ vùng ven về khu vực đô thị để định cư (xem Hình 1. Chính quyền Pháp đầu tư kinh phí cho việc QHXD bảo tồn buôn làng truyền thống: quy hoạch, san ủi mặt bằng, làm đường, hỗ trợ dân làm nhà ở, nhà rông. Việc kế thừa và phát huy giá trị truyền thống trong cách tổ chức quy hoạch buôn làng của mỗi dân tộc làm cho đồng bào dễ chấp nhận.
Ưu điểm rõ nét là các buôn làng được QHXD tôn trọng hình thái làng bản truyền thống, từ cách bố trí không gian khu ở, giao thông, khu công cộng đến kiến trúc nhà sàn, tổ chức sinh hoạt, sản xuất cũng theo phong tục tập quán. Chính quyền Pháp đầu tư tương đối bài bản các làng nhằm phục vụ chiến tranh. Quá trình đô thị hóa đã ảnh hưởng đến các buôn làng truyền thống khá nhiều, làm phá vỡ cấu trúc hầu hết các buôn làng trong đô thị, hiện nay tại TP. Pleiku chỉ còn lại 2/42 làng gần như còn giữ được nhiều giá trị (làng Plei Ốp – phường Hoa Lư, làng Plei Brel – xã Biển Hồ) (xem Hình 1.
Đặc trưng của các buôn làng dân tộc là về quy hoạch: theo truyền thống chọn đất, chọn hướng, giữ gìn tôn tạo địa hình, cảnh quan. Khi xây dựng buôn làng tuyệt đối tôn trọng địa hình cảnh quan, không san ủi đất, không chặt cây, khai thác thiên nhiên, dựa vào điều kiện tự nhiên. Hầu hết các buôn làng ở TP. Pleiku vẫn còn duy trì phổ biến hình thức nhà vườn cho đến ngày nay, từng hộ đều có khuôn viên cây xanh, cảnh quan hài hòa….
Cách thức tổ chức không gian trong quy hoạch buôn 11 làng của đồng bào rất gần gũi với nguyên lý quy hoạch xây dựng tiểu khu nhà ở, nhóm nhà ở của kiến trúc hiện đại (các dạng quy hoạch như: ô bàn cờ, vòng tròn hướng tâm, theo tuyến, xương cá…). Đặc trưng về kiến trúc truyền thống là nhà sàn, mái với độ dốc lớn, vật liệu xây dựng chủ yếu là gỗ, tranh, tre, nứa, lá… mặt bằng nhà là không gian rộng thoáng rất ít vách ngăn, ít mở cửa, phù hợp với điều kiện thời tiết của Gia Lai (một ngày có 4 mùa, dao động nhiệt 15-17 độ, quanh năm mưa dầm nắng bụi). Nguyên tắc tổ chức các buôn làng truyền thống là hầu hết các làng có diện tích trung bình khoảng 15 – 20ha, làng lớn đến 30 – 40ha, bình quân diện tích mỗi nhà có diện tích nhà và vườn khoảng 2000-5000 m2, vườn chiếm 0.5ha bao quanh nhà. Hệ thống giao thông trong làng bố trí kiểu ô bàn cờ, mỗi cạnh 50 – 100m.
Nhà Rông là nơi sinh hoạt cộng đồng của đồng bào trong làng. Hiện nay đường nội bộ trong làng được mở rộng, khang trang, nhà ở thay vách nứa bằng gỗ hay vách trát đất ấm cúng hơn, mái tranh được thay bằng mái ngói hay mái tôn, nhưng tổ chức việc ăn, ở, sinh hoạt và sản xuất khá đồng bộ theo phong tục tập quán cổ truyền (xem Hình 1. Các làng tại Pleiku có chung đặc điểm là hình thành lâu đời trước khi hoặc cùng với lịch sử hình thành đô thị, tới nay tất cả các làng này đã thực sự gắn bó với quá trình hình thành và phát triển của đô thị,góp phần làm nên sắc thái đô thị “Phố núi” cho Pleiku. Đặc trưng cấu trúc không gian buôn làng truyền thống trong đô thị Pleiku a.
Không gian quy hoạch kiến trúc làng: là không gian khép kín, trước đây có hàng rào bao bọc xung quanh, có 2 cổng ra vào làng thường đặt theo hướng Đông – Tây. Các làng của người Jrai ở theo kiểu chia lô thửa với hệ thống đường trong làng mạch lạc, các hộ gia đình có khuôn viên ngăn cách bằng hệ thống rào cây xanh; Đối với người Bahnar thì hệ thống đường chủ yếu nối trực tiếp các căn nhà, các gia đình không có khuôn viên ngăn cách với nhau rõ ràng. Pleiku hiện có: 39 làng của dân tộc Jrai và 3 làng của dân tộc Bahnar). 12 - Không gian bên trong là không gian đóng, nhiều chức năng tổng hợp bao gồm: không gian sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa cộng đồng (nhà rông, sân lễ hội, nhà dài…); Không gian ở; Không gian sản xuất; Không gian sinh hoạt thể dục thể thao và vui chơi.
- Không gian kiến trúc quy hoạch bên ngoài làng là không gian mở, liên kết và hài hòa với không gian đô thị xung quanh. Điểm nhấn quan trọng của làng là nhà Rông. - Đặc trưng trong quy hoạch làng, đó là truyền thống chọn đất, hướng, giữ gìn và tôn tạo địa hình, cảnh quan… Cách thức tổ chức không gian trong quy hoạch buôn làng gần gũi với nguyên lý quy hoạch xây dựng tiểu khu nhà ở, xóm nhà ở của kiến trúc hiện đại (các dạng: ô bàn cờ, vòng tròn hướng tâm, xương cá…) (xem Hình 1. Đặc trưng không gian ở truyền thống: Loại hình nhà ở của người Jrai: có khuôn viên rõ ràng: nhà sàn là trung tâm, bố cục khuôn viên nhà ở thường theo một kiểu giống nhau.
Hình thái làng kiểu này thường có trục chính và từ trục chính hình thành mạng đường ô cờ với các khuôn viên hình vuông hoặc chữ nhật có diện tích một ngàn đến vài ngàn mét vuông. Khuôn viên của nhà ở có thể chia thành 3 loại: Loại lớn > 5.000m2; Loại trung bình từ 2.000m2; Loại nhỏ từ 500-2. Trong khuôn viên khu đất có: Nhà sàn, kho thóc, vườn tạp, cây ăn quả, cổng hàng rào bằng cây xanh hoặc tre nứa, có nhà dùng kẽm gai.4) Loại hình nhà ở của người Bahnar: Không có khuôn viên riêng, ranh giới giữa các nhà không rõ ràng, các nhà sàn được bố trí san sát nhau, nối với nhau bằng những con đường mòn hình thành tự nhiên. Trong làng hầu như rất ít cây xanh, “vườn rừng” thì nằm cách xa làng 1-2 km, hoặc liền kề với khu đất của làng.
Các trục đường chính của làng thường theo kiểu vòng tròn hướng tâm, rẻ quạt… nhà ở cùng quay về một hướng Bắc Nam hoặc hướng về nhà Rông. Diện tích bình quân mỗi hộ khoảng vài trăm mét vuông.4) 13 Đặc trưng về kiến trúc truyền thống là nhà sàn, mái có độ dốc lớn, vật liệu chủ yếu là gỗ, tranh, tre, nứa, lá… mặt bằng nhà là không gian rộng thoáng rất ít vách ngăn, ít mở cửa, phù hợp với điều kiện thời tiết. Bên cạnh đó còn có nhà rông, nhà mồ, tượng điêu khắc gỗ, cây nêu trong tổ chức lễ hội, chi tiết hoa văn độc đáo…và phong tục, tập quán ở quây quần với ý thức cộng đồng cao. Đặc trưng không gian công cộng truyền thống: Trong mỗi làng đều có các công trình công cộng và không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống như: Nhà rông, sân lễ hội, khu nhà mồ, sân hoạt động thể dục thể thao và các trò chơi dân gian, giọt nước, cổng làng… là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh hoạt văn hóa, lễ thức tôn giáo, phong tục tập quán của người dân trong làng, đây là cảnh hoạt động trong cảnh quan nhân tạo.5) Các không gian công cộng đặc trưng của làng có thể kể đến là: - Không gian văn hóa cồng chiên (Di sản văn hóa thế giới): Thường rất linh hoạt, không cố định ở một vị trí nào.
Có thể ở trước nhà rông, ở sân lễ hội, quanh cây nêu ngày tết hoặc lễ đâm Trâu, cũng có thể ngay trong khu nhà mồ trong lễ bỏ mả. - Không gian diễn ra các nghi thức tôn giáo và quyết định những công việc quan trọng của cả làng: Chủ yếu là ở nhà rông, hoặc trên sân lễ hội. - Giọt nước: là nơi lấy nước, tắm giặt của cả làng, thường nằm ở bìa làng. - Khu nhà mồ và tượng mồ: đây là nơi khá đặc biệt và riêng của các cư dân Tây Nguyên.
Khu nhà mồ thường đặt ở phía Tây của làng.