Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng quản trị công ty tại hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đóng vai trò then chốt đối với sự an toàn tài chính quốc gia. Tính đến năm 2016, toàn hệ thống có 35 ngân hàng thương mại, trong đó khối ngân hàng thương mại cổ phần chiếm tới 31 đơn vị và 4 ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Giai đoạn 2011 - 2015 chứng kiến nhiều biến động lớn khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao và hàng loạt sai phạm trong quản trị điều hành bị xử lý hình sự, bắt nguồn từ sự chi phối của các nhóm cổ đông lớn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hoàn thiện quy chế pháp lý của thành viên Hội đồng quản trị độc lập nhằm giải quyết triệt để xung đột lợi ích giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại 31 ngân hàng thương mại cổ phần và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản trị.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong khung thời gian từ năm 2009 đến năm 2016, gắn liền với mốc ban hành Nghị định 59/2009/NĐ-CP và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các nhà đầu tư nắm giữ dưới 10% cổ phần, đồng thời hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ tuân thủ chuẩn mực quản trị ngân hàng lên 100% theo các thông lệ quốc tế tiên tiến.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết đại diện (Agency Theory) do Jensen và Meckling công bố năm 1976 để giải thích sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, nơi nhà quản lý có xu hướng tối đa hóa lợi ích cá nhân hơn là quyền lợi cổ đông. Đồng thời, Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) của Freeman năm 1984 được sử dụng để phân tích trách nhiệm của ngân hàng đối với người gửi tiền, bạn hàng và cộng đồng xã hội.

Về cấu trúc quản trị, nghiên cứu so sánh mô hình đơn lớp của hệ thống Thông luật Anh - Mỹ với mô hình hai lớp của Đức và các nước châu Âu lục địa. Tại Việt Nam, hệ thống quản trị ngân hàng là sự kết hợp đặc thù gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị có thành viên độc lập và Ban kiểm soát độc lập.

Các khái niệm nòng cốt được làm rõ bao gồm: ngân hàng thương mại cổ phần, quản trị công ty ngành ngân hàng, thành viên Hội đồng quản trị độc lập và quy chế pháp lý. Tính độc lập được chuẩn hóa qua 2 tiêu chí ranh giới: tính độc lập tài sản (không sở hữu từ 1% vốn điều lệ trực tiếp và không cùng người liên quan sở hữu từ 5% trở lên) cùng tính độc lập nhân thân (không giữ vị trí quản lý hoặc làm việc tại ngân hàng trong thời hạn 3 đến 5 năm liền kề trước đó).

Mô hình đơn lớp (Anh - Mỹ): 
Đại hội đồng cổ đông -> Hội đồng quản trị (Thành viên điều hành & Độc lập) -> Ban Tổng Giám đốc

Mô hình hai lớp (Đức): 
Đại hội đồng cổ đông -> Ban Giám sát (Supervisory Board) -> Ban Quản lý (Management Board)

Mô hình đặc thù tại NHTMCP Việt Nam: 
Đại hội đồng cổ đông -> [Hội đồng quản trị (có TV độc lập) + Ban Kiểm soát] -> Ban Điều hành

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn triển khai khảo sát toàn bộ 31 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, bao gồm 9 ngân hàng đã niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cùng 22 ngân hàng chưa niêm yết. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để phân tích chuyên sâu 4 ngân hàng đại diện tiêu biểu là Vietcombank, VietinBank, MBBank và Sacombank. Lý do lựa chọn cách tiếp cận này nhằm đảm bảo tính bao quát toàn hệ thống nhưng vẫn khai thác sâu sắc sự phân hóa quản trị giữa nhóm định chế tài chính quy mô lớn và nhóm ngân hàng quy mô vừa.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích chuẩn tắc pháp luật, so sánh luật học với các hướng dẫn của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) và Nguyên tắc quản trị OECD năm 2004. Tác giả thực hiện thống kê mô tả dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập từ điều lệ, quy chế nội bộ, báo cáo thường niên và nghị quyết đại hội đồng cổ đông trong suốt giai đoạn 2009 - 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tính tuân thủ pháp luật về việc bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị độc lập còn rất chậm chễ và mang tính đối phó. Dù Nghị định 59/2009/NĐ-CP và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã quy định rõ, nhưng có tới hơn 70% ngân hàng chỉ bắt đầu bầu thành viên độc lập trong giai đoạn 2011 - 2013. Đáng chú ý, tính đến đầu năm 2016, có khoảng 6,45% ngân hàng (2 trên tổng số 31 đơn vị, cụ thể là Bảo Việt Bank và VietBank) hoàn toàn chưa có thành viên độc lập trong cơ cấu tổ chức.

Thứ hai, sự phân hóa tiêu chuẩn độc lập giữa các ngân hàng diễn ra rõ rệt. Nhóm ngân hàng lớn như VietinBank đã chủ động mở rộng quy định nội bộ lên 12 tiêu chí độc lập khắt khe, bao gồm việc không làm việc tại ngân hàng trong 5 năm gần nhất và không có quan hệ với đơn vị kiểm toán trong 5 năm. Ngược lại, nhóm ngân hàng chưa niêm yết chỉ áp dụng mức quy định tối thiểu của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 với thời hạn cách ly 3 năm.

Thứ ba, quyền hạn thực tế của thành viên độc lập chưa được bảo đảm. Trong cơ cấu hoạt động, việc phân công thành viên độc lập đứng đầu các ủy ban trọng yếu như Ủy ban Quản lý rủi ro hay Ủy ban Nhân sự chỉ xuất hiện tại khoảng 30% các ngân hàng được khảo sát.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ cơ cấu sở hữu tập trung, sự tồn tại của các nhóm lợi ích chi phối và nhận thức chưa đầy đủ về giá trị kinh tế của quản trị minh bạch. So sánh với thông lệ quốc tế, Báo cáo Higgs tại Anh và Nguyên tắc OECD năm 2004 khuyến nghị thành viên độc lập phải chiếm đa số trong Hội đồng quản trị và nắm quyền kiểm soát tại các ủy ban nhân sự, lương thưởng. Tại Việt Nam, quy định tại Điều 50 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 chỉ yêu cầu tối thiểu 1 thành viên độc lập trên tổng số ít nhất 5 thành viên Hội đồng quản trị, tức chỉ chiếm tỷ lệ 20%.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa trực quan qua bảng tổng hợp tiến trình bổ nhiệm thành viên độc lập tại 31 ngân hàng từ năm 2006 đến năm 2016. Bên cạnh đó, một biểu đồ phân bố so sánh tỷ lệ thành viên độc lập giữa nhóm ngân hàng niêm yết (đạt mức 15% đến 25%) và nhóm chưa niêm yết (dưới 15%) sẽ làm nổi bật sự tác động của các quy chuẩn thị trường chứng khoán đối với tính minh bạch của tổ chức tín dụng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Nâng cao tỷ lệ bắt buộc của thành viên độc lập: Kiến nghị Quốc hội và Ngân hàng Nhà nước sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng theo hướng quy định thành viên Hội đồng quản trị độc lập phải chiếm tối thiểu 30% tổng số thành viên và không dưới 2 người tại 100% ngân hàng thương mại cổ phần. Lộ trình triển khai hoàn thành trước năm 2020.
  2. Siết chặt tiêu chuẩn và điều kiện độc lập: Bổ sung vào các văn bản quy phạm pháp luật quy định cấm cá nhân từng cung cấp dịch vụ pháp lý, kiểm toán cho ngân hàng trong 3 năm gần nhất được ứng cử thành viên độc lập. Chủ thể thực hiện là Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, áp dụng ngay trong giai đoạn 2017 - 2018.
  3. Quy định rõ thẩm quyền và vị trí chuyên trách: Ban hành quy chế mẫu bắt buộc thành viên Hội đồng quản trị độc lập phải giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban Quản trị rủi ro hoặc Ủy ban Nhân sự. Hội đồng quản trị các ngân hàng thương mại cổ phần có trách nhiệm hoàn tất việc sửa đổi điều lệ trong vòng 12 tháng kể từ khi quy định có hiệu lực.
  4. Minh bạch hóa cơ chế thù lao và xây dựng cơ sở dữ liệu ứng viên: Thiết lập hệ thống dữ liệu ứng viên thành viên độc lập chuẩn hóa do Ngân hàng Nhà nước quản lý từ năm 2019. Quy định thù lao của thành viên độc lập do Đại hội đồng cổ đông phê duyệt trực tiếp và công khai 100% trong báo cáo thường niên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Nắm bắt dữ liệu thực chứng từ 31 ngân hàng thương mại cổ phần để xây dựng, sửa đổi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản trị rủi ro và tiêu chuẩn công bố thông tin.
  2. Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát các ngân hàng: Sử dụng khung 12 tiêu chí độc lập tham chiếu từ các ngân hàng tiên phong để rà soát, hoàn thiện điều lệ và quy chế quản trị nội bộ, nâng cao chỉ số tín nhiệm của ngân hàng.
  3. Cổ đông thiểu số và nhà đầu tư tổ chức: Trang bị công cụ pháp lý và phương pháp phân tích cơ cấu quản trị, từ đó sử dụng hiệu quả quyền biểu quyết dồn phiếu nhằm bảo vệ vốn đầu tư trước các nguy cơ giao dịch nội gián.
  4. Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Khai thác nguồn tài liệu học thuật chuyên sâu với hệ thống dữ liệu toàn diện về 35 định chế tài chính phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chuẩn cốt lõi để xác định một thành viên Hội đồng quản trị là độc lập gồm những gì?

Thành viên độc lập phải đáp ứng tiêu chuẩn chung của thành viên Hội đồng quản trị và không vi phạm các điều kiện về quan hệ tài sản (sở hữu trực tiếp dưới 1%, sở hữu cùng người liên quan dưới 5%) và quan hệ nhân thân (không làm việc tại ngân hàng trong 3 năm gần nhất, không giữ vị trí quản lý trong 5 năm gần nhất).

Tại sao ngân hàng thương mại cổ phần bắt buộc phải có thành viên Hội đồng quản trị độc lập?

Ngân hàng kinh doanh chủ yếu bằng vốn huy động từ xã hội với độ rủi ro cao. Thành viên độc lập cung cấp góc nhìn khách quan từ bên ngoài, đóng vai trò đối trọng với các cổ đông lớn, ngăn chặn các quyết định quản trị mang tính tư lợi nhóm và bảo vệ lợi ích người gửi tiền.

Phương thức bầu dồn phiếu hỗ trợ gì cho việc bầu thành viên độc lập?

Bầu dồn phiếu cho phép cổ đông nhân số cổ phần sở hữu với số lượng thành viên cần bầu để dồn phiếu cho một ứng viên duy nhất. Cơ chế này giúp nhóm cổ đông nhỏ sở hữu từ 10% đến 15% vốn cổ phần có đủ sức mạnh tập hợp để bầu thành công đại diện độc lập vào Hội đồng quản trị.

Mô hình quản trị ngân hàng tại Việt Nam khác biệt như thế nào so với mô hình thế giới?

Khác với mô hình đơn lớp của Anh - Mỹ không có Ban kiểm soát hoặc mô hình hai lớp của Đức nơi Ban Giám sát có quyền bổ nhiệm Ban Điều hành, Việt Nam áp dụng mô hình kết hợp: Đại hội đồng cổ đông bầu cả Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát độc lập để cùng giám sát hoạt động quản trị điều hành.

Mức thù lao của thành viên Hội đồng quản trị độc lập được xác định như thế nào để đảm bảo tính khách quan?

Thù lao của thành viên độc lập phải được Đại hội đồng cổ đông quyết nghị riêng biệt, chi trả cố định theo công việc thực hiện thay vì gắn với kết quả lợi nhuận ngắn hạn của ngân hàng, nhằm tránh tạo áp lực làm sai lệch các phán quyết kiểm soát rủi ro.

Kết luận

  • Luận văn là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện quy chế pháp lý thành viên Hội đồng quản trị độc lập tại 31 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
  • Tác giả đã làm sáng tỏ khoảng cách giữa quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn triển khai khi vẫn còn 6,45% ngân hàng chưa áp dụng cơ chế thành viên độc lập.
  • Đề tài đóng góp hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể, đề xuất nâng tỷ lệ thành viên độc lập lên mức tối thiểu 30% trong giai đoạn 2017 - 2020.
  • Lộ trình hoàn thiện thể chế gắn liền với việc chuẩn hóa 12 tiêu chí độc lập và thiết lập trung tâm dữ liệu ứng viên chuyên nghiệp do cơ quan quản lý điều hành.
  • Để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, các ngân hàng thương mại cổ phần cần chủ động tái cấu trúc Hội đồng quản trị ngay hôm nay thay vì chỉ dừng lại ở mức tuân thủ hình thức.