CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUANG BA CAC DIEM DEN DU LICH TREN TAP CHi HANG KHONG 1. Một số khái niệm và co sở lý luận liên quan đến đề tài 1. Khái niệm quảng bá du lịch Quảng bá du lịch là một phần quan trọng trong hoạt động marketing du lịch, với quan hệ “tập mẹ - tập con”, trong đó marketing du lịch là tập mẹ. Theo UNWTO, marketing du lịch được hiểu là việc áp dụng một triết lý quản trị dựa trên việc nghiên cứu và dự đoán nhu cầu của du khách để phát triển và quảng bá sản phẩm du lịch.
Mục tiêu là tối ưu hóa lợi nhuận cho tổ chức du lịch [63]. Chính phủ Northwest Territories giải thích marketing du lịch hay tiếp thị du lịch là quá trình quảng bá sản phẩm hoặc dịch vụ khiến người sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ đi một chuyến ra khỏi môi trường thường ngày của họ trong vòng ít hơn một năm, không phải vì công việc mà vì mục đích khác như công tác, nghỉ ngơi hoặc mục đích cá nhân [30, tr. Tóm lại, marketing du lịch bao gồm các hoạt động cụ thể nhằm quảng cáo và giới thiệu dịch vụ du lịch của một địa điểm cu thé đến với du khách. Quảng bá du lịch là một phần quan trọng của những hoạt động này, được xem là một trong những phương thức quảng cáo hiệu quả nhất trong lĩnh vực marketing du lịch.
Bồ sung cho định nghĩa trên, theo PGS. TS Bùi Thi Tám, hoạt động marketing du lịch là một quá trình quản lí va hợp tác đồng sáng tạo giá trị dé đáp ứng các thứ bậc nhu cầu đa dạng, phức tạp của khách hàng và thực hiện các mục tiêu của tổ chức [4]. Mặt khác, Robert Lanquar và Robert Hollier định nghĩa marketing du lịch như một loạt các phương pháp và kỹ thuật nhằm thỏa mãn các nhu cầu, cả được nói ra và không nói ra, của khách hàng. Nhu cầu này có thể liên quan đến tiêu khiển hoặc các mục đích khác như gia đình, công tác và họp hành [38].
Như vậy, hai mục tiêu chính của marketing du lịch là: 1: Thỏa mãn nhu cầu của khách hàng 2: Thỏa mãn mục tiêu lợi nhuận 11 Đề đạt được hiệu quả kể trên, cần đến một loạt yếu tố của hỗn hợp marketing — marketing mix, bao gồm sản phẩm (products), giá ca (prices), phân phối (places or distribution), và quảng ba (promotion). Từ hai định nghĩa trên, quảng bá du lịch lúc này đã được hiểu một cách chi tiết hơn: nó không chỉ tồn tại độc lập như một thành tố tạo nên marketing du lịch mà còn được gán thêm mục tiêu, cách thức, phương pháp và kĩ thuật hoạt động. Nhìn chung, có thé giải thích rằng quảng bá du lich bao gồm việc xây dựng các chiến lược quảng bá đa dạng, bao gồm lựa chọn và đào tạo đội ngũ bán hàng, quảng cáo, xúc tiễn bán hàng, và quan hệ công chúng. Quảng bá du lịch cũng nhắn mạnh việc sử dụng các không gian cụ thê cho việc quảng bá, như quảng cáo trực tuyến, trên truyền hình, và trong các ấn phẩm báo chí.
Một yếu tố quan trọng trong quảng bá du lịch là việc nồi bật hóa các điểm đến, đây là trọng tâm chính của hoạt động quảng bá. Khái niệm điểm đến du lịch Có rất nhiều cách khác nhau dé hiểu điểm đến. Theo Kotler và Gertner [35], một điểm đến là một khu vực có địa giới hành chính cụ thé, có thé được phê duyệt bởi luật pháp hoặc dựa trên nhận thức cá nhân. Tuy nhiên, UNWTO nói rằng điểm đến du lịch được coi là địa điểm quan trọng quyết định việc thực hiện một chuyến đi [63].
Do đó, có nhiều cách đề đạt được điểm đến tự thân. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sẽ xem xét điểm đến gắn với mục đích du lịch, tức là điểm đến du lịch điểm đến du lịch hoặc điểm thu hút du lịch. "Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lich", theo Khoản 7 Luật Du lịch 2017 (Giải thích từ ngữ). Du lịch được hiểu một cách đơn giản là rời bỏ nơi ở thông thường dé đến một địa điểm mới để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của con người.
Trong quan điểm này, mục tiêu là điểm đến, nơi giúp mọi người đáp ứng nhu cầu của họ. Tuy nhiên, khái niệm về điểm đến còn khá mơ hồ vì nó chỉ định rõ vị trí địa lý dựa trên nhu cau của du khách thay vì xác định rõ ràng các yếu tô làm cho một điểm đến hap dẫn. Theo Giáo sư Dimitrios Buhalis, một chuyên gia về quản trị du lịch và phân tích thị trường, một điểm đến du lịch bao gồm một loạt sản phẩm và dịch vụ du lịch 12 được tiêu thụ dưới thương hiệu của chính điểm đến [22]. Nó lại được định nghĩa một cách chuyên biệt hơn là một khu vực cụ thể trong đó khách du lịch lưu trú trong ít nhất một đêm và bao gồm các sản phẩm du lịch với các ranh giới địa lý và hành chính được xác định bởi hình ảnh, quản lý và quan điểm cạnh tranh thị trường [63].
Mặc dù Luật Du lịch 2017 không đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về điểm đến du lịch, tuy nhiên Chương IV, điều 23 (Điểm du lịch, khu du lịch) đã nêu ra các điều kiện cấu thành nên một điểm du lịch, gồm: a) Sự hiện diện của tài nguyên du lịch và ranh giới rõ ràng; b) Hạ tầng và dịch vụ cần thiết để phục vụ du khách; c) Tuân thủ các quy định về an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ môi trường. Các tiêu chí này cung cấp một hệ thống giá trị bổ sung cho việc hiểu rõ hơn về khái niệm điểm đến du lịch. Thêm vào đó, có thể tiếp cận điểm đến du lịch dưới các khía cạnh sau: e Dựa trên ranh giới quản lý hành chính của một địa phương, vùng dia lý hoặc thị trường, nhưng phải đáp ứng mức độ phát triển du lịch đủ dé đáp ứng nhu cầu của du khách [4 ] e Điểm đến vi mô và vĩ mô: Cả hai đều liên quan đến nhau. Một ving, bang, thành phó, thị xã hoặc những điểm thăm quan trong một thị trấn hoặc phường có thể là một điểm đến vĩ mô.
Điểm đến vi mô bao gồm các điểm du lịch nhỏ hơn nằm trong cùng một khu vực. e Trong mối quan hệ kinh tế-du lịch, điểm đến du lịch được coi là một phần quan trọng của dịch vụ du lịch. Lý do là điểm đến có chức năng chính là đáp ứng nhu cầu đa dang và đa dang của du khách. e Từ góc độ cung cấp dịch vụ du lịch, điểm đến du lịch là nơi tập hợp các tiện nghi và dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách.
Có thé thấy, không có một định nghĩa đồng nhất về điểm đến du lịch. Tuy nhiên, tựu trung lại, dé tiép cận khái niệm nay một cach đầy đủ nhất, có thể tham 13 khảo một tập hợp quan điểm thống nhất với các quan diém kê trên, đó là bản chỉ tiết hóa các yếu tố cần có trong khái niệm điểm đến du lịch của Morrison [49]: — Một vùng địa lí có địa giới hành chính hay ranh giới vô hình — Một tô hợp yêu tố hap dẫn dé du khách viéng thăm cùng các điểm du lịch, sản phẩm, dịch vụ du lịch và các dịch vụ hỗ trợ cần thiết khác — Có nỗ lực marketing du lịch — Có cơ cấu tô chức hợp tác — _ Có hình ảnh điểm đến trong tâm thức của du khách — Có các yêu tố thé chế và quy định — Sự phối hợp của các cá nhân, tô chức quan tâm đến du lịch Khả năng cung cấp và chất lượng của những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định đi du lịch của du khách. Có thé kết luận, điểm đến du lịch là một khái niệm với nội hàm lớn và phức tạp, nhưng cũng vì vậy mà chúng ta có thé tiếp cận nó trên nhiều bình diện, cụ thé trong hoạt động quảng bá điểm đến du lịch với những người làm nghề báo, nội hàm phong phú của nó có thê tối đa hóa sức sáng tạo của chúng ta. Các phương pháp và hình thức quảng bá du lịch Việc quảng bá du lịch bao gồm nhiều hoạt động nhằm mục đích thu hút khách du lịch đến một điểm đến.
Dưới đây là một số phương pháp và hình thức quảng bá du lịch thông dụng: Quảng cáo (Advertising) — Truyền thông in ấn: Sử dụng tờ rơi, tạp chí, brochure, và báo chí. — Truyền thông phát thanh và truyền hình: Bao gồm quảng cáo trên truyền hình và radio. — Quảng cáo ngoài trời: Biển quảng cáo, bảng hiệu, và quảng cáo trên phương tiện giao thông. — Truyền thông số: Sử dụng các nền tảng trực tuyến như quảng cáo banner trên các trang web, nội dung tài trợ, và các chiến dịch tiếp thị qua email.
14 Tiếp thị trực tuyến (Online Marketing) Mạng xã hội: Tận dụng các nên tảng như Instagram, Facebook, Twitter, và TikTok để chia sẻ nội dung hấp dẫn và tương tác với khách du lịch tiềm năng. Tiếp thị nội dung: Tạo và phân phối nội dung giá trị (bài viết, video, infographics) nhằm thu hút và tương tác với khách hàng mục tiêu. Tiếp thi qua công cụ tìm kiếm: Sử dụng quảng cáo trả tiền dé đảm bảo hiển thi trong kết quả tìm kiếm. SEO: Tối ưu hóa nội dung trang web để xếp hạng cao hơn trong kết quả tim kiêm tự nhiên.
Quan hệ công chúng (Public Relations) Phát hành thông cáo báo chí: Đưa thông tin đáng chú ý về điểm đến đến các phương tiện truyền thông. Chuyến tham quan tìm hiểu: Mời các đại lý du lịch, nhà báo hoặc người ảnh hưởng đến thăm và trải nghiệm điểm đến trực tiếp. Sự kiện và triển lãm: Tham gia vào các hội chợ thương mại, hội chợ du lịch và lễ hội văn hóa để quảng bá điểm đến. Khuyến mãi (Sales Promotions) Ưu đãi giảm giá: Cung cấp giảm giá tạm thời hoặc các gói giá trị gia tăng dé kích thích nhu cầu.
Chương trình khách hàng thân thiết: Khuyến khích việc quay lại thăm điểm đến thông qua phần thưởng và lợi ích thành viên. Cuộc thi và rút thăm trúng thưởng: Gắn kết khách du lịch tiềm năng thông qua các cuộc thi có giải thưởng liên quan đến điểm đến. Hợp tác và cộng tác (Partnership and Collaboration) Chương trình khuyến mãi chung: Kết hợp với các hãng hàng không, khách sạn hoặc các điểm đến khác để cung cấp các gói du lịch toàn diện. 15 — Tiếp thị chéo: Liên kết với các thương hiệu không cạnh tranh dé tiếp cận đối tượng khách hàng rộng lớn hơn.