Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng, và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan Tổng quan lý thuyết về vốn luân chuyển, quản trị vốn luân chuyển, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đồng thời tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan. 4 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày mô hình nghiên cứu, mô tả biến, mô tả dữ liệu, phương pháp và quy trình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Trình bày thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy.
Chương 5: Kết luận Tổng kết quá trình và kết quả nghiên cứu để từ đó đề xuất một số gợi ý chính sách giúp gia tăng khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thực phẩm niêm yết thông qua công tác quản trị vốn luân chuyển. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Tổng quan lý thuyết 2.1 Vốn luân chuyển và quản trị vốn luân chuyển Vốn luân chuyển (Working Capital) là sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả. Theo nghĩa rộng, vốn luân chuyển là tài sản ngắn hạn gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty.
Trước khi trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt, vốn luân chuyển chuyển hoá qua tất cả các dạng tồn tại từ khoản phải thu đến tồn kho trong mỗi chu kỳ kinh doanh (Guthmann và Dougall, 1948). Chính sự chuyển hoá nhanh như vậy, nên việc quản trị vốn luân chuyển cần nhiều sự quan tâm và thời gian của các nhà quản trị tài chính. Quản trị vốn luân chuyển quan trọng đối với bất kỳ công ty nào nhằm nghiên cứu, đưa ra các chính sách và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn nhằm tối đa giá trị công ty. Do đó, các nhà quản trị luôn quan tâm và chú trọng đến việc quản trị vốn luân chuyển vì nó có thể là một trong những nguyên nhân tác động đến sự thành công hay thất bại của một công ty.
Đồng thời việc cấp thiết của các nhà quản trị tài chính là cần đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho vốn luân chuyển.2 Các thành phần của vốn luân chuyển Ba thành phần tạo nên vốn luân chuyển là hàng tồn kho, các khoản phải thu khách hàng và các khoản phải trả người bán. Hàng tồn kho là những tài sản: (a) được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường; (b) đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang; (c) nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ (theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02). Việc dự trữ hàng tồn kho nhiều hay ít đều có tính hai mặt. Một mặt, duy trì lượng hàng tồn kho dự trữ ở mức cao sẽ làm giảm chi phí do sự gián đoạn trong quá trình sản xuất gây ra, hoặc giảm các tổn thất do sự khan hiếm hàng hóa, giảm thiểu chi phí đặt hàng, bảo vệ doanh nghiệp khỏi các biến động giá cả, cùng một số lợi thế khác (Blinder và Manccini, 1991).
Tuy nhiên, việc duy trì mức hàng tồn kho cao đồng nghĩa với nguồn vốn của doanh nghiệp bị đóng băng trong khoản mục này, 6 đồng thời doanh nghiệp còn phải chịu một số rủi ro kinh doanh (hàng hoá bị hư hỏng, bị đánh cắp, lỗi thời…) và gánh thêm chi phí lưu kho. Vì vậy, điều này sẽ làm giảm tính thanh khoản và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các khoản phải thu khách hàng được coi như là một khoản tín dụng ngắn hạn mà doanh nghiệp cấp cho khách hàng của mình. Các doanh nghiệp có thể tập trung vào việc tăng doanh số bằng cách cung cấp tín dụng thương mại (bán chịu) cho khách hàng của mình.
Việc cung cấp tín dụng thương mại có thể giúp doanh thu được cải thiện tốt hơn. Nhưng điều đó cũng có thể làm tăng vòng quay hàng tồn kho, có thể dẫn đến các vấn đề về dòng tiền vì một số khoản phải thu khách hàng có thể mất nhiều thời gian hơn để được giải quyết. Vì vậy, cũng giống như hàng tồn kho, đầu tư quá lớn vào khoản mục này cũng sẽ làm khả năng sinh lời của doanh nghiệp bị giảm. Đồng thời việc cấp tín dụng cho khách hàng thì doanh nghiệp cũng sẽ nhận được các khoản tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp.
Đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng được, góp phần làm giảm lượng tiền mặt mà doanh nghiệp phải bỏ ra để đầu tư vào hàng tồn kho và tài khoản phải trả nhà cung cấp. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng, nguồn vốn chiếm dụng này có thể có chi phí tiềm ẩn rất lớn, do doanh nghiệp không được hưởng chiết khấu như khi thanh toán sớm cho nhà cung cấp. Trên thực tế, tùy thuộc vào thời hạn cấp chiết khấu và phần trăm chiết khấu, chi phí cơ hội có thể vượt quá 20% (Wilner, 2000; Ng, Smith và Smith, 1999). Về vấn đề này, các nghiên cứu trước đây đã phân tích về chi phí của tín dụng thương mại, và nhận ra rằng các công ty chỉ sử dụng nguồn tài trợ này trong trường hợp không huy động được các nguồn tài trợ khác (Petersen và Rajan, 1994 và 1997).
Do đó điều cần thiết là các khoản phải trả, các khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho được duy trì ở mức độ cân đối nhất định bằng cách tăng cường giám sát hiệu quả. Để tìm hiểu cụ thể mối quan hệ ba thành phần tạo nên vốn luân chuyển, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng thước đo phổ biến là chu kỳ luân chuyển tiền – là số ngày trung bình tính từ ngày doanh nghiệp phải thanh toán cho các nhà cung cấp đến 7 ngày doanh nghiệp nhận được khoản thanh toán từ khách hàng của mình để tiến hành nghiên cứu dựa trên dữ liệu của nhiều quốc gia trên thế giới.3 Mục tiêu của quản trị vốn luân chuyển Quản trị vốn luân chuyển đề cập đến chiến lược quản lý của một công ty để giám sát và sử dụng hai thành phần vốn lưu động: tài sản lưu động và nợ ngắn hạn, để đảm bảo công ty hoạt động hiệu quả nhất. Mục đích chính của quản lý vốn luân chuyển là đáp ứng chi phí hoạt động ngắn hạn và nghĩa vụ nợ ngắn hạn bằng việc duy trì đủ dòng tiền.4 Các phương pháp quản trị vốn luân chuyển Theo Ukaegbu (2014), có ba phương pháp quản trị vốn luân chuyển: phương pháp quản trị thận trọng, phương pháp quản trị mạo hiểm và phương pháp quản trị ôn hòa. Phương pháp quản trị thận trọng là cách tiếp cận bảo thủ có xu hướng sử dụng các nguồn tài chính dài hạn cho hoạt động và sử dụng các nguồn ngắn hạn trong trường hợp khẩn cấp.
Chính sách này cho thấy các công ty đang tăng thêm lượng tiền mặt và hàng tồn kho một cách đáng kể. Điều này tạo cho doanh nghiệp có cơ hội tăng doanh thu khi nhu cầu tăng vì lượng hàng tồn kho luôn ổn định và đáp ứng được nhu cầu khi cần thiết. Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp nắm giữ lượng tiền mặt lớn thì doanh nghiệp có cơ hội đầu cơ nguyên vật liệu đầu vào với giá tốt. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế đang khó khăn trì trệ, nhu cầu thị trường giảm đi thì khi đó doanh nghiệp dự trữ hàng tồn kho lớn sẽ có rủi ro cao và mạo hiểm.
Ngược lại, phương pháp quản trị mạo hiểm hoàn toàn đối lập với phương pháp quản trị thận trọng. Điều này phản ánh phương pháp quản trị mạo hiểm là việc cắt giảm tối thiểu lượng tiền mặt và hàng tồn kho của doanh nghiệp. Điều này có thể dẫn đến tính thanh khoản kém. Phương pháp này có thể mất cơ hội tăng doanh số do lượng hàng tồn kho không đủ để cung ứng khi nhu cầu thị trường tăng cao, có thể dẫn đến mất thị phần.
Ngoài ra, việc lượng tiền mặt nắm giữ thấp doanh nghiệp có thể bị mất cơ hội để đàm phán được giá tốt và mất cơ hội trong việc đầu cơ nguyên vật liệu, hàng hóa đầu vào với giá rẻ. Tuy nhiên phương pháp quản trị mạo hiểm cũng có ưu 8 điểm là không bị chôn vốn nhiều vào hàng tồn kho và tiền mặt nhàn rỗi, giảm chi phí sử dụng vốn. Sự dung hòa giữa hai phương pháp quản trị mạo hiểm và bảo thủ là phương pháp quản trị ôn hòa. Phương pháp này sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn.
Tiền mặt và lượng hàng tồn kho được nắm giữ ở mức độ cân đối vừa phải. Ngoài ra, phương pháp này hạn chế rủi ro khả năng thanh toán, giúp tình hình tài chính doanh nghiệp được ổn định. Cuối cùng, điều quan trọng cần lưu ý là phương pháp quản trị vốn luân chuyển nên xem xét bản chất của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp khác nhau sẽ có yêu cầu vốn luân chuyển khác nhau. Vì vậy, quyết định và duy trì một phương pháp quản trị vốn luân chuyển phù hợp là vấn đề vô cùng cấp thiết.
Tổng quan các nghiên cứu trước đây Ngày nay, trên thế giới có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Tuy mỗi nhà nghiên cứu tiến hành phân tích và kiểm chứng từ mỗi quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của họ có khá nhiều điểm tương đồng. Đầu tiên, Shin và Soenen (1998) đã phân tích theo ngành và cường độ vốn luân chuyển từ 58.985 công ty giai đoạn 1975-1994 tại Mỹ.
Shin và Soenen đo lường quản trị vốn luân chuyển bằng chu kỳ thương mại thuần (giao dịch ròng) (NTC). NTC tương đương với chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) trong đó ba thành phần được thể hiện tính theo phần trăm doanh thu. Theo hai nhà nghiên cứu này cho rằng khả năng sinh lợi và CCC tương quan nghịch biến. Dựa trên những phát hiện, họ đề xuất rằng có thể giảm CCC đến một mức độ tối thiểu tạo ra giá trị cho các cổ đông.
Tiếp theo, Gosh và Maji (2003) đã nghiên cứu hiệu quả quản trị vốn luân chuyển của các công ty xi măng Ấn Độ trong thời gian 1992-1993 và 2001-2002. Để đo lường hiệu quả quản trị vốn luân chuyển thay vì dùng một số tỷ lệ quản trị vốn luân chuyển chung, họ đã tính ba giá trị: chỉ số hiệu suất, chỉ số sử dụng và chỉ số hiệu quả tổng thể.