CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN TRI THU BẢO HIẾM XA HOI 1. Téng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trong của dé tài 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc là đề tài đã được nhiều nhà khoa học quan tâm cụ thé: - Dương Xuân Triệu (2011) da tong hợp văn ban cua Nha nước vé thu BHXH tại Việt Nam, từ đó dua các giải pháp hoàn thiện quy trình quan lý thu, quy trình cấp và quản lý số BHXH, thẻ bảo hiểm y tế. Có thé thay, đây là những nghiệp vụ quan trọng của BHXH và thường được nghiên cứu cùng nhau.
Xuất thân là người làm ở Viện nghiên cứu Khoa học — Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tác giả đã trình bày rất kỹ các luận điểm khoa học, thực tiễn của van đề nghiên cứu, từ đó đảm bao tính thực tiễn của các giải pháp. Tuy nhiên, bài nghiên cứu mang đậm tính nghiệp vụ và hướng nghiên cứu của nghiệp vụ BHXH mà chưa đề cập nhiều đến các vấn đề quản trị. Hệ thống các giải pháp đưa ra cũng chưa chú trọng đến quản trị quá trình thu. - Phạm Trường Giang (2010) đã nghiên cứu vấn đề lý luận, thực tiễn đối với công tác quản lý thu BHXH ở Việt Nam.
Luận án chú trọng vào nghiên cứu định lượng nhằm đảm bảo tính tin cậy của các nhận định. Đây cũng là phương pháp mà bản thân tác giả có thé nghiên cứu dé vận dụng vào luận văn của mình. Trong luận án, Phạm Trường Giang cũng khăng định vai trò của quản lý thu đối với quỹ BHXH và sự hiệu quả của BHXH ở mọi quốc gia trong đó có Việt Nam. Trong luận án, tác giả cũng đã đưa ra những khó khăn trong quá trình thực hiện thu BHXH ở Việt Nam.
Một trong các nguyên nhân của vấn đề này là tính tự giác của người tham gia BHXH cũng như những hạn chế về năng lực và quyền hạn của cán bộ làm công tác thu BHXH. - Lâm Thị Thu Huyền (2020) đã nghiên cứu các quy định về đóng BHXH theo các quy định mới của Luật Bảo hiểm Xã hội 2014 và những quy định mới được sửa đổi từ năm 2018. Những nhận xét, đánh giá của tác giả là tài liệu quan trọng giúp bản thân tôi đánh giá kỹ hơn về công tác quản lý thu BHXH ở Việt Nam hiện nay. - Phạm Minh Việt (2019) nghiên cứu "hoạt động quản lý thu BHXH ở Việt Nam", theo đó, nội dung của công tác quan lý thu được tác giả nghiên cứu theo 05 nội dung: quản lý đối tượng tham gia, quản lý căn cứ đóng BHXH, quản lý tổ chức thu, quản lý rủi ro BHXH và thanh tra, kiểm tra chuyên nghành về đóng BHXH.
Có thẻ thấy, cách nghiên cứu của tác giả tập trung vào các van dé của quan lý kinh tế. Nội dung nghiên cứu cũng nhấn mạnh vào quản lý thông qua hệ thống chính sách dé định hướng, điều chỉnh hoạt động thu của BHXH Việt Nam. Có thé thấy, cách tiếp cận này không phù hợp với chuyên ngành quản trị kinh doanh mà tôi đang theo học. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về luận án, bản thân tôi cũng đã thu thập thêm được những nội dung thuộc về vấn đề quản lý Nhà nước.
Từ đó, có thể vận dụng hiệu quả và đưa ra các giải pháp phù hợp với quan điểm quản lý nhà nước về công tác thu BHXH Việt Nam. - Nguyễn Thị Hào (2014) nghiên cứu về "đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam, trong đó nội dung luận án đánh giá về các vấn đề đảm bảo thu, chỉ, duy trì sự cân đối, ôn định quỹ BHXH. Điều này một lần nữa chứng minh tam quan trọng của quản trị thu BHXH. Ngoài ra, nội dung luận án cũng đưa ra một số tiêu chí đánh giá đảm bảo tài chính có thể vận dụng được trong luận văn của tôi như: tỷ lệ dan số tham gia; mức độ tuân thủ Bảo hiểm xã hội.
(2014) đã nghiên cứu việc dam bảo kiểm soát thu nhập của người lao động tham gia đóng BHXH qua các cơ quan thuế, qua đó đảm bảo tránh thất thoát thu BHXH, cùng với đó bài viết cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của cải cách thủ thục hành chính trong van đề BHXH. Bài viết được nghiên cứu điển hình ở Uruguay cho thấy áp dụng cải cách hành chính và kết hợp sự kiểm soát của cơ quan thuế đã giúp lực lượng lao động tham gia BHXH tăng hơn 25%. Thực tế này cho thấy hai vấn đề quan trọng và rất phù hợp với BHXH nước ta hiện nay đó là đảm bảo sự kết hợp hiệu quả của các cơ quan liên ngành cũng như tiếp tục tăng cường cải cách thủ tục hành chính - Nguyễn Trọng Thản (2016) đã đưa ra "một số giải pháp chống thất thu BHXH ở Việt Nam". Có thé thấy, các giải pháp mà tác giả đưa ra đã dam bảo tính thực tiễn, khả thi trong giai đoạn hiện nay.
Các giải pháp được tác giả nêu ra gồm: tăng cường kiểm tra kiểm soát hoạt động thu, dao tạo nhân lực phục vụ hoạt động thu, xây dựng chế tài xử lý đối với tình trạng nợ, chậm đóng, chậm thu BHXH. Khoảng trong đề tài Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị thu BHXH, có thê thấy, các tác giả đã tong hop khá day đủ các van đề có liên quan đến quản trị thu BHXH. Tuy nhiên, mặc dù có nhiều dé tài nghiên cứu, các đề tài đã công bố vẫn có những khoảng trồng sau: - Nhiều dé tài nghiên cứu van dé dưới góc độ lý luận, thiếu tính thực tiễn hoặc nếu có cũng chưa có sự cập nhật trong giai đoạn hiện nay khi Luật BHXH năm 2014 vẫn còn hiệu lực nhưng đã được sửa đối và bố sung một số điều. - Hầu hết các đề tài nghiên cứu nghiên cứu vấn đề quản lý thu BHXH theo từng nội dung riêng lẻ theo nghiệp vụ BHXH.
Vì vậy chưa đảm bảo nghiên cứu tong thé van dé quản lý thu BHXH theo quy trình quản lý. - Các dé tài được công bố vẫn tập trung nghiên cứu dưới góc nhìn của quản lý kinh tế vĩ mô, nghiệp vụ cụ thể của BHXH hoặc tài chính kinh tế. Hầu hết các công trình nghiên cứu chưa nghiên cứu về quản trị thu BHXH dưới góc nhìn quản tri. Trong khi đó, hoạt động quản tri thu BHXH như đã trình bay là hoạt động quan trọng bởi thông qua hoạt động quản tri, nhà quản lý có thể tác động đến các đối tượng khác nhau, phối hợp chúng nhằm giúp đạt được mục tiêu đề ra.
Từ những khoảng trống trên, có thể thấy nghiên cứu hoạt động quản trị thu BHXH của BHXH Việt Nam là đề tài có tính cấp thiết và không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu mà bản thân tác giả được biết. Một số khái niệm cơ bản 1. Bảo hiểm xã hội Khái niệm về Bảo hiểm xã hội Từ khi ra đời đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về BHXH. Cụ thê như sau: - Dưới góc độ chính sách, BHXH là một trong những chính sách của xã hội, chính sách này giúp đảm bảo các vấn đề anh sinh xã hội liên quan đến người lao động.
BHXH cũng giúp bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ôn định chính trị quốc gia. - Dưới góc nhìn tải chính, BHXH là quá trình tạo lập và sử dụng một quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các đơn vị sử dụng lao động (bên tham gia) và có sự hỗ trợ của Nhà nước. Quỹ BHXH được chia sẻ trên tinh than lay số đông bù số ít, góp phần đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động trong những tình huống phát sinh sự kiện bảo hiểm (được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội). - Dưới góc độ quản lý, BHXH được coi là công cụ giúp Nha nước quan lý và điều điết mối quan hệ phức tạp giữa người lao động và người sử dụng lao động.
- Dưới góc nhìn thu nhập của cá nhân, BHXH giúp đảm bảo thay thế và bù đắp một phần thu nhập khi người lao động có tham gia BHXH khi họ bị mat hoặc giảm thu nhập, giúp họ bớt khó khăn trong cuộc sống. Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLD khi họ bị giảm hoặc mat thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, thất nghiệp, hết tuôi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” [5, tr.2] Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, các khái niệm đều đảm bảo bản chất của BHXH: "BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuôi lao động hoặc chết, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật nhăm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần dam bao an toàn xã hội"[22. Đây cũng là cách tiếp cận mà tác giả sử dụng trong luận văn, với cách tiếp cận này, BHXH có những bản chất sau: - BHXH là nhu cầu khách quan, là sản phẩm của nền kinh tế hàng hoá, là sản phẩm của sự phát triển kinh tế xã hội.
Một nền kinh tế lạc hậu, đói kém không thể có hệ thống BHXH ưu việt. Điều này có thể giải thích bởi hệ thống nhu cầu của con người, khi nhu cầu sinh lý được đảm bảo, các nhu cầu bậc cao hơn xuất hiện, đó là lúc nhu cầu an toàn ra đời. BHXH ra đời như là công cụ dé đáp ứng nhu cau an toàn đó. BHXH giúp đảm bao an toàn kinh tế cho NLD va gia đình họ.
Day có thé được coi là cơ chế "phân phối ngang", hay nói cách khác là quá trình phân phối thu nhập của quãng thời gian làm việc cho quãng thời gian không làm việc. - BHXH có thể hiểu là sự “đền bù” hậu quả của “rủi ro" xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Hoạt động này được thực hiện qua cơ chế sử dụng quỹ tiền tệ và sử dụng nó dé bù đắp hoặc giảm bớt các thiệt hai do các rủi ro gây ra. - BHXH được vận hành dựa trên cơ chế số đông bù cho số it, theo nguyên tac “đóng — hưởng”.