Chương 1: Lý luận chung về ngân hàng thương mại, thanh khoản và quản trị thanh khoản tại các ngân hàng. Chương 2: Thực trạng quản trị thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. Chương 3:Giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản trị thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Qua hệ thống NHTM các chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nước sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng, nhờ đó mà việc kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp theo đúng luật pháp được dễ dàng hơn. Khái niệm NHTM Ở Mỹ: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”.
Ở Pháp, theo luật ngân hàng hàng năm 1941 thì "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác, các số tiền mà họ dùng cho chính họ và các nghiệp vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài chính" [32] Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 thì ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau. “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”[12]. Trong đó quy định về ngân hàng như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.” Như vậy, NHTM là một định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường.Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung và sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cá nhân với mục đích phát triển kinh tế xã hội.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các chức năng của ngân hàng thƣơng mại Về cơ bản, NHTM có các chức năng chính sau: - Chức năng trung gian: Cấu tạo của chức năng trung gian bao gồm: Trung gian tín dụng: NHTM đóng vai trò cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Cụ thể, NHTM tập trung, huy động các nguồn tiền tệ tạm thời, nhàn rỗi trong nền kinh tế biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cấp tín dụng đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội. Trung gian thanh toán: NHTM đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các khách hàng bởi ngân hàng vừa là người giữ tiền vừa là người thanh toán, chi hộ cho khách hàng.
Với chức năng này, hệ thống Ngân hàng thương mại đã góp phần phát triển nền kinh tế. Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng. Trung gian tài chính: Trong chức năng này, NHTM đón vai trò là người giải quyết các bài toán tài chính cho các tổ chức. Cụ thể, khi một tổ chức thực hiện việc phát hành trái phiếu, NHTM có thể đứng ra giúp tổ chức phát hành, bán hoặc thậm chí mua trái phiếu của tổ chức đó khi bán không hết.
Trung gian “dọc”: Nếu hình dung 3 chức năng trung gian trên của NHTM (khi đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn) là trung gian “ngang”, thì chức năng trung gian “dọc” của NHTM chính là cầu nối giữa NHTW và công chúng. Trong chức năng này, NHTM đóng vai trò là cánh tay nối dài của NHTW trong việc thực thi các chính sách tiền tệ. - Chức năng tạo tiền: Chức năng này được hình thành trên cơ sở hai chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán. Từ một số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng.
Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư. Với số tiền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 này sau khi đã để lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sư đem đi đầu tư, cho vay từ đó nó sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay của vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng, ngân hàng thương mại thực hiện được chức năng tạo tiền. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thƣơng mại 1.
Các nghiệp vụ trong bảng tổng kết tài sản - Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn của NHTM (Nghiệp vụ nợ - NVN): Đây là nghiệp vụ tạo nguồn vốn kinh doanh cho NHTM. Hoạt động nguồn vốn được phản ánh thông qua kết cấu nguồn vốn của NHTM, gồm: Vốn của ngân hàng: Ở Việt Nam, theo thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20 tháng 05 năm 2010 của Ngân hàng nhà nước bao gồm: Vốn cấp 1: Vốn điều lệ thực có, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia, thặng dư vốn cổ phần theo quy định. Vốn cấp 2: Quỹ dự phòng tài chính, phần giá trị tăng thêm của TSCĐ và của các loại chứng khoán đầu tư được định giá lại, trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do TCTD phát hành có thời hạn dài, các giấy nợ thứ cấp có thời hạn dài. Vốn huy động: Đây là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng rất lớn trong hoạt động kinh doanh của NHTM gồm có: Tiền gửi không kỳ hạn (còn được gọi là tiền gửi giao dịch, tiền gửi thanh toán), tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, nguồn vốn huy động qua phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi,… Vốn đi vay: Trong trường hợp nguồn vốn tự có và huy động không đủ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình, NTHM có thể đi vay từ các chủ thể sau: Vay từ Ngân hàng Trung Ương (NHTW) dưới hình thức tái cấp vốn (như chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá.) vay thiếu hụt trong thanh toán bù trừ, vay qua đêm, thấu chi…, Vay từ các tổ chức tín dụng khác qua thị trường liên ngân hàng, hợp đồng mua lại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Vay từ công ty, vay từ thị trường tài chính trong nước, tín dụng quốc tế… Các nguồn vốn khác: Bao gồm vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng, vốn hình thành từ trong quá trình hoạt động của ngân hàng, ví dụ nghiệp vụ qua lại đồng nghiệp… - Nghiệp vụ sử dụng vốn (Nghiệp vụ có - NVC): Nghiệp vụ có của NHTM bao gồm các nghiệp vụ liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn của ngân hàng, gồm [5]: Thiết lập dự trữ: Đối với nguồn vốn của mình, NHTM không được sử dụng toàn bộ cho hoạt động kinh doanh mà phải dành một phần nguồn vốn thích hợp cho dự trữ nhằm đáp ứng những yêu cầu như duy trì dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN, thực hiện các lệnh rút tiền và thanh toán của khách hàng, chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả lãi, đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý trong ngày của khách hàng, thực hiện các khoản chi tiêu hàng ngày tại ngân hàng,… Dự trữ có thể dưới dạng tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng khác và các chứng khoán ngắn hạn, có tính lỏng cao để có thể chuyển thành tiền mặt nhanh chóng khi cần.
Nghiệp vụ tín dụng: Trong nghiệp vụ này, NHTM đóng vai trò là chủ nợ và mục đích hướng đến là lãi vay. Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: Cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính, bao thanh toán…. Trong đó, hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lời chủ yếu của NHTM truyền thống. Nghiệp vụ đầu tƣ: Đối với nghiệp vụ này, NHTM đóng vai trò là ông chủ và mục đích hướng đến chính là lợi nhuận của hoạt động đầu tư.
Với mong muốn sử dụng hiệu quả nguồn vốn và chia sẻ rủi ro với nghiệp vụ tín dụng, NHTM sử dụng các nguồn vốn ổn định để thực hiện các hình thức đầu tư như góp vốn, liên doanh, mua cổ phần của các công ty, xí nghiệp, các TCTD khác, đầu tư vào chứng khoán và giấy tờ có giá. Nghiệp vụ khác: Mua sắm thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh, xây dựng trụ sở, hệ thống kho bãi và các chi phí khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Nghiệp vụ trung gian: Nghiệp vụ trung gian bao gồm dịch vụ phi tín dụng ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác. Đây là các sản phẩm dịch vụ khi ngân hàng cung cấp cho khách hàng sẽ nhận được các khoản hoa hồng và lệ phí như dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ bảo hiểm (Bancassurance), dịch vụ thông tin tư vấn, dịch vụ giữ hộ (cho thuê ngăn tủ sắt), ….
Nghiệp vụ ngoại bảng Nghiệp vụ ngoại bảng được hiểu là các hoạt động có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối tài sản (nội bảng), bởi nó có thể tạo ra những tài sản có và tài sản nợ bổ sung cho bảng cân đối nội bảng. Những khoản mục ngoại bảng này tác động mạnh mẽ đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng. Những hoạt động ngoài bảng cân đối tài sản có thể kể ra như các chứng thư bảo lãnh, cam kết L/C, hợp đồng phái sinh (trao ngay, quyền chọn, tương lai, trao đổi)… 1. TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN 1.