CHƯƠNG 1. TÔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN củ u VÀ co SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH 1. Tông quan các công trình nghiên cứu có liên quan Việc từng bước hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính trong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm triền khai thực hiện. Đã có một số đề tài nghiên cứu về cơ chế tự chủ trên nhiều góc độ và đối tượng khác nhau như: Tác giã Đoàn Hương Quỳnh (2016), “Tự chủ tài chính đổi với các đơn vị sự nghiệp cồng: Đột phá mới và các yêu cầu thực hiện ”, bài đăng trên tạp chí tài chính số 4/2016.
Đe tài đưa ra các bước đột phá mới trong việc cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công, tăng cường giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công, nhằm “cởi trói” cho các đơn vị, thúc đấy các đơn vị sự nghiệp công phát triển, giảm áp lực phụ thuộc và ngân sách Nhà nước [19]. Bùi Tiến Dũng (2014), ‘'''Đổi mới cơ chế tài chính đổi với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ - Những vấn đề đặt ra” bài đăng trên Tạp chí tài chính số 2/2014. Bài báo đã phân tích các vấn đề cốt lõi trong cơ chế tài chính hiện nay của các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính hiện nay. Tuy nhiên đề tài mới chỉ giới hạn trong phạm vi tự chủ tài chính của các tố chức khoa học công nghệ [6].
Trần Đức Cân (2012), “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập ở Việt Nam ”, Luận án Tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Luận án đã làm rõ bản chất của tự chủ tài chính, cơ chế tự chủ tài chính, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ. Đồng thời, luận án cũng phân tích các thực trạng, những thuận lợi, khó khăn cùa cơ chế tự 5 chủ tài chính hiện nay từ góc độ các trường đại học công lập. Đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả, tính linh hoạt, tính công bằng, tính đồng thuận của các trường đối với cơ chế hiện hành, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam [1], Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2013), “Hoàn thiện cơ che tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh ”, Luận văn Thạc sĩ, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Tác giả đã nghiên cứu, phân tích thực trạng việc sử dụng kinh phí Ngân sách nhà nước cấp cũng như công tác quản lý sử dụng nguồn kinh phí từ nguồn thu thu được tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh. Nhưng phạm vi nghiên cứu và đề xuất giải pháp chỉ áp dụng trên khía cạnh một đơn vị [7]. Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu khác liên quan đến hoàn công tác quản trị tài chính tại doanh nghiệp mà tác giả tham khảo. Các đề tài trên đã nghiên cứu về quản trị tài chính, cơ chế tự chủ trên các đối tượng khác nhau (chủ yếu là các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức khoa học công nghệ, đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo), trên các địa phương khác nhau và thời gian nghiên cứu đã lâu, hiện tại cơ chế, chính sách đã có nhiều thay đổi nên một số tồn tại và giải pháp không còn phù hợp.
Do đó việc nghiên cứu là cần thiết, phục vụ cho công tác quản trị tài chính tại Đài THVN theo hướng tự chủ và không bị trùng lặp với các đề tài khác. Khái niệm và vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp Quản trị tài chính là sự tác động của nhà quản trị tới các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Nó được thực hiện thông qua một cơ chế.
Đó là cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp. Cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản trị các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm, đạt được những mục tiêu nhất định. 6 Tài chính doanh nghiệp được hiêu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thế trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp.
Quan hệ giữa doanh nghiệp vói thị trường tài chính: Quan hệ này được thế hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ. Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng.
Quan hệ giữa doanh nghiệp vói. các thị trường khác: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động. Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động,. Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cần thiết cung ứng.
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kể hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoâ mãn nhu cầu thị trường. Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông, và người quản lý, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các mối quan hệ này được thế hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí,. 7 Đứng trên khía cạnh quản trị, tài chính doanh nghiệp được xem như một lĩnh vực khoa học và nghệ thuật trong quản lý tiền.
Khoa học trong tài chính nằm trong những nguyên tắc, những phương pháp phân tích đánh giá mà nó căn cứ vào đế thực hiện. Tính nghệ thuật trong tài chính doanh nghiệp lại được biểu hiện ở những mức độ khác nhau như việc cùng thực hiện một nguyên tắc phân tích và quản trị trong tài chính, nhưng mồi doanh nghiệp lại gặt hái được sự thành công khác nhau trên thị trường. Ngoài ra, tài chính doanh nghiệp cũng là một lĩnh vực xem xét sự vận động của tiền trong doanh nghiệp. Sự vận động của tiền thường được biểu hiện bằng dòng tiền ban đầu của doanh nghiệp (huy động vốn), sau đó dòng tiền được sử dụng để mua sắm, đầu tư tài sản, nguyên vật liệu phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh và cuối cùng là việc bán những sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp tạo ra đề thu về một dòng tiền mới.
Đe đảm bảo được hiệu quả cơ bản về tài chính thì dòng tiền mới được tạo ra này phải có giá trị lớn hơn dòng tiền ban đầu. Nội dung chủ yếu của cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm: cơ chế quản lý tài sản; cơ chế huy động vốn; cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận; cơ chế kiểm soát tài chính của doanh nghiệp. Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp Quản trị tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản trị của doanh nghiệp, nó quyét định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên ? phạm vi toàn thế giới, quản trị tài chính trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Bất kỳ ai liên kết, hợp tác với doanh nghiệp cũng sẽ được hưởng lợi nếu như công tác quản trị tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả, ngược lại, họ sẽ bị thua thiệt khi quản trị tài chính kém hiệu quả. Quản trị tài chính là sự tác động của nhà quản trị tới các hoạt động tài 8 chính của doanh nghiệp. Nó được thực hiện thông qua một cơ chê. Đó là cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp.
Cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản trị các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm, đạt được những mục tiêu nhất định. Nội dung chủ yếu của cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm: cơ chế quản lý tài sản; cơ chế huy động vốn; cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận; cơ chế kiếm soát tài chính cùa doanh nghiệp. Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cần được quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông và nhà quản trị, mà còn cả lợi ích của người làm công, khách hàng, nhà cung cấp và Chính phủ. Đó là nhóm người có nhu cầu tiềm năng về các dòng tiền của doanh nghiệp.
Giải quyết vấn đề này liên quan tới các quyết định đối với bộ phận trong doanh nghiệp và các quyết định giữa doanh nghiệp với các đối tác ngoài doanh nghiệp. Do vậy, nhà quản trị tài chính, mặc dù có trách nhiệm nặng nề về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp vẫn phài lưu ý đến sự nhìn nhận, đánh giá của người ngoài doanh nghiệp như cổ đông, chủ nợ, khách hàng? Nhà nước,. Do quản trị tài chính có thể được nhìn nhận trên giác độ của nhà quản trị bên ngoài đối với doanh nghiệp và trên giác độ cùa nhà quản trị bên trong doanh nghiệp nên có hai cách tiếp cận về cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp: cơ chế quản trị tài chính đối với doanh nghiệp và cơ chế quàn trị tài chính trong doanh nghiệp. Quản trị• tài chính là một • động • hoạt • có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt • động khác của doanh nghiệp.
Quản trị tài chính tốt có thể khắc phục được những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác. Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất khôn lường cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế.