Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO.1 Tổng quan về rủi ro 1.1 Khái niệm Ngày nay có rất nhiều khái niệm về rủi ro, cụ thể một số khái niệm c ơ bản sau: Theo Frank Knight, học giả Mỹ cho rằng rủi ro l à sự bất trắc có thể đo l ường được; theo Malurin Hart McCorty th ì rủi ro là 1 tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có th ể xác định được. Trong khi đó, theo tổ chức ti êu chuẩn hóa thế giới (ISO) rủi ro là sự kết hợp giữa các xác suất xảy ra một sự kiện v à những hậu quả tiêu cực của sự kiện đó. Theo quan điểm của hai trường phái lớn: • Trường phái truyền thống cho rằng rủi ro l à những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc những điều không chắc chắn có thể xả y ra cho con người. • Trường phái trung hòa lại cho rằng rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.
Allan Willett cụ thể rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi. Rủi ro trong kinh doanh xuất nhập khẩu l à những rủi ro có thể đo lường được, nó có thể tạo ra những tổn thất, mất mát, thiệt hại hoặc l àm mất đi những cơ hội sinh lời.2 Phân loại rủi ro Trong hoạt động kinh doanh có rất nhiều loại rủi ro v à ngày càng xuất hiện thêm nhiều loại rủi ro mới với mức độ phức tạp hơn. Căn cứ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành các nhóm chính sau: - Rủi ro tài chính: là những rủi ro liên quan đến các thiệt hại có thể xảy ra đối với thị trường tài chính do sự thay đổi của các biến số t ài chính: giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái. - Rủi ro trong kinh doanh: l à tất cả những yếu tố rủi ro phát sinh từ môi tr ường kinh doanh bên ngoài doanh nghi ệp: chính trị, xã hội, khoa học công nghệ, nh à cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Rủi ro trong hoạt động: là các rủi ro về vi phạm quy định chính sách nội bộ của công ty hoặc các hoạt động gian lận nh ư: tham ô, mất mát, lãng phí, hư hỏng, lạm dụng, phá hoại, vi phạm quy chế quản lý, kiểm soát t ài chính, hệ thống thông tin… - Rủi ro nguy hiểm/Rủi ro tuân thủ: là các rủi ro liên quan đến pháp luật đó chính là những việc vi phạm các văn bản pháp luật của nh à nước.2 Các rủi ro cơ bản trong hoạt động xuất khẩu 1.1 Rủi ro tỷ giá Tỷ giá là một trong nguồn gốc rủi ro chính khiến nhiều doanh nghiệp trên thế giới cũng như các doanh nghiệp trong nước rơi vào lao đao và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của rất nhiều công cụ ph òng chống rủi ro ngoại hối. Biến động tỷ giá có thể tác động đến doanh nghiệp theo nhiều cách v à được đo lường bằng độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá. Nguy c ơ độ nhạy cảm tỷ giá phổ biến nhất m à các doanh nghiệp xuất khẩu gặp phải nh ư: + Xuất khẩu hàng hóa thu về ngoại tệ + Các khoản vay bằng ngoại tệ. + Các khoản đầu tư nước ngoài.
Nguy cơ rủi ro kiểu này là rất quan trọng bởi vì những biến động ngoại hối có thể ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nguy c ơ rủi ro này có thể định lượng được và do vậy doanh nghiệp thường hiểu rất rõ về nó.2 Rủi ro giá cả hàng hóa Giá cả các mặt hàng nông hải sản xuất khẩu sẽ bị tá c động mạnh do biến động bất ổn của giá cả thế giới, trong thời gian qua th ường xuyên rơi vào cảnh được mùa thì mất giá, được giá thì mất mùa. Việc giá nông, hải sản xuất khẩu sụt giảm tr ên thị trường thế giới trong những năm sắp đến là điều hoàn toàn có thể xảy ra, một phần do kinh tế thế giới có xu hướng chững lại, phần khác giá các mặt h àng này còn phụ thuộc quá nhiều vào yếu tố không thể kiểm soát đ ược như thời tiết chẳng hạn. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công tác dự báo giá còn hạn chế nên việc các doanh nghiệp ký hợp đồng kỳ hạn gặp không ít rủi ro nh ư: khi doanh nghiệp ký hợp đồng xuất khẩu th ì chỉ dự tính cơ bản giá nguồn nguyên liệu đầu vào và giá xuất khẩu, nhưng khi thực hiện hợp đồng thì giá nguyên liệu trong nước tăng gây thua lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Việc rủi ro xuất hiện khi giá sản phẩm xuống thấp hoặc giá đầu v ào tăng gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Biến động giá cả h àng hóa ngày càng trở nên khó lường mà nguyên nhân của nó ngày càng khó xác định không chỉ ở bản thân hàng hóa đó mà còn ảnh hưởng rất lớn từ các hàng hóa khác.3 Rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra những biến động của l ãi suất dẫn đến những tác động bất lợi cho các hoạt động kinh doanh. Gây ảnh h ưởng đến nguồn tài trợ của doanh nghiệp, việc huy độ ng vốn của doanh nghiệp gặp khó khăn. Việc biến động của lãi suất có thể tạo ra áp lực l àm tăng chi phí của các doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp nào có doanh thu thấp sẽ bị tác động bất lợi bởi l ãi suất tăng lên và có thể lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Trong những năm qua việc chạy đua l ãi suất của các ngân hàng thương mại nhiều lúc không tuân theo một qui luật n ào cả. Việc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng thương mại đã tạo không ít rủi ro cho các doanh nghiệp. Nguồn vốn kinh doanh các doanh nghiệ p xuất khẩu gạo chủ yếu từ nguồn vốn vay ngân hàng, nên vi ệc biến động lãi suất ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.4 Rủi ro cạnh tranh trên thị tường Trong xuất khẩu luôn phải cạnh tranh với các n ước cùng xuất về năng suất, chất lượng và giá thành.Thế giới được mùa mà tiêu thụ chậm lại nên các nước xuất khẩu gạo sẽ phải cạnh tranh gay gắt để ti êu thụ được số gạo dôi dư ở nước mình.
Sự cạnh tranh với các nước xuất khẩu gạo Thái Lan, Ấn và cả Trung Quốc về giá cả, chất lượng ngày càng gay gắt. Mặt hàng gạo Việt Nam đang có nguy c ơ giảm dần các lợi thế cạnh tranh do tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch cao, công nghệ chế biến thấp, đồng thời ch ưa xây dựng được thương hiệu xứng tầm (ví dụ ở Thái Lan, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch chỉ khoảng 7-10%, còn ở Việt Nam, tỷ lệ này chiếm tới 13-16%). Phẩm cấp thấp và sự 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kém đa dạng về chủng loại cũng l à một bất lợi lớn của gạo Việt Nam. Theo số liệu nghiên cứu của Vụ Xuất nhập khẩu, trong khi gạo chất lượng cao (5-10% tấm) của Việt Nam được đánh giá là đã tăng đáng kể từ 14,2% năm 1990 l ên hơn 40% vào năm 2000 thì ở Thái Lan, tỷ lệ này thường xuyên chiếm trên 70% tổng lượng xuất khẩu và tiếp tục tăng do các nh à sản xuất nước này đang nghiên cứu để cho ra đời những giống mới có chất l ượng cao hơn.
Không chỉ trên thị trường thế giới, hạt gạo Việt Nam cũng đang phải chịu sức ép cạnh tranh ngay trong n ước; nhất là tại các thành phố lớn, vẫn có mặt gạo Thái Lan. Những lợi thế về chi phí lao động thấp đang dần mất đi trong quá tr ình tăng trưởng kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, b ên cạnh các yếu tố về đảm bảo chất lượng, giá cả, mẫu mã, kênh phân phối. cần phải xây dựng th ương hiệu cho hạt gạo Việt Nam 1.5 Rủi ro về công nghệ, chất l ượng sản phẩm Thu hoạch và bảo quản là một trong những khâu quan trọng góp phần nâng cao sản lượng và chất lượng lúa trong một mùa vụ của những người nông dân.
Từ trước tới nay, việc thu hoạch v à bảo quản lúa của nông dân n ước ta phần lớn phụ thuộc vào phương pháp thủ công. Lúa được làm khô chủ yếu nhờ ánh nắng mặt trời nên người nông dân chỉ có thể cất giữ đ ược trong một thời gian nhất định.Ở quy mô lớn hơn, tuy lúa được cất giữ trong những nh à kho nhưng chất lượng của thóc gạo cũng sẽ không cao bởi điều k iện bảo quản còn quá đơn giản. Với một lượng gạo xuất khẩu hằng năm khá cao, Việt Nam cần có những quy tr ình cải tiến trong bảo quản sản phẩm lương thực. Khi thực hiện bảo quản tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc lựa chọn thời điểm xuất khẩu để có đ ược giá cao nhằm đảm bảo lợi ích cho người nông dân.
Công nghệ chế biến sau gạo, phần lớn công nghệ n ày ở Việt Nam chỉ đạt tr ình độ thủ công sản xuất gạo thô phục vụ trong n ước. Trong khi ở Thái Lan, ngo ài phục vụ một lượng đông đảo khách du lịch n ước ngoài cũng như xuất khẩu gạo nguyên hạt chất lượng cao thì hằng năm, quốc gia này còn xuất khẩu khoảng 150 ngh ìn tấn sản phẩm chế biến từ gạo, thu về khoảng 78 triệu USD, t ương đương giá trị của 0,5 triệu tấn gạo xuất khẩu. Mặc d ù các nhà máy chế biến gạo xuất khẩu của Việt Nam có công nghệ và thiết bị ở trình độ tương đương với Thái Lan, song 80% l ượng thóc của Việt Nam lại được xay xát và chế biến tại các cơ sở nhỏ và các hộ nông dân 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không được trang bị đồng bộ về ph ơi sấy và kho chứa nên chất lượng gạo chế biến giảm đi rất nhiều. Chất lượng gạo chưa ổn định dẫn đến giá bán ra thị tr ường xuất khẩu thấp, đặc biệt là gạo của Việt Nam luôn bán thấp h ơn gạo Thái Lan xuất khẩu c ùng loại từ 30- 40 USD/tấn; gạo chất lượng cao xuất khẩu còn thấp.