Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết chung về quản trị rủi ro tín dụng. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Đánh giá thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng VPBank Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng VPBank. Kết luận 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề được nghiên cứu và quan tâm hàng đầu tại hệ thống Ngân hàng, tài chính trên toàn thế giới, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Những quốc gia này mong muốn xây dựng được một hệ thống Ngân hàng an toàn, phòng tránh các rủi ro, đi đến phát triển bền vững để làm điểm tựa cho nền kinh tế lưu thông. Quản trị rủi ro được định hình là một quá trình xây dựng, thực thi các chính sách, chiến lươc quản trị và kinh doanh tín dụng với mục tiêu tối đa hóa lợi ích, lợi nhuận cho Ngân hàng trong phạm vi vùng rủi ro có thể chấp nhận được. Quản trị rủi ro theo đúng tiêu chuẩn bao gồm các bước cơ bản: Nhận biết rủi ro tín dụng, Đánh giá phân tích, Phương án ứng phó và Kiểm soát rủi ro.
Hiện nay, một số lượng lớn các Ngân hàng, đặc biệt là các Ngân hàng lớn tuân thủ nghiêm ngặt Hiệp ước Basel trong quản trị rủi ro tín dụng. Nghiên cứu về quản trị rủi ro ngân hàng thương mại được Pyle (1999) thực hiện với mục tiêu giải thích được sự cần thiết của nghiệp vụ này, nhấn mạnh mối quan hệ giữa quản trị rủi ro tín dụng và sự phát triển của hệ thống ngân hàng nói chung. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (2001) dựa vào các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng rủi ro tín dụng là rủi ro đáng quan tâm và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong rủi ro tổng thể của ngân hàng. Vì vậy quản trị rủi ro tín dụng theo đúng tiêu chuẩn chung sẽ đem lại sự ổn định cho hệ thống ngân hàng.
Trụ cột tiêu chuẩn của Basel II là các yêu cầu về dự trữ bắt buộc, tăng cường giám sát, kỷ luật thị trường và tinh hình hệ thống kinh tế, ngân hàng nói chung. Goyal (2010) áp dụng tiêu chuẩn Basel II để phân tích và đề xuất phương án đối với 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hệ thống Ngân hàng Ấn Độ. Trong kết quả nghiên cứu của mình, ông nhận ra các thách thức đối với Ngân hàng Ấn Độ trong việc thay thế kiểm soát nội bộ và mô hình quản lý rủi ro. Liệu rằng, kiểm soát riêng rủi ro tín dụng tách biệt hay phát triển một mô hình quản lý rủi ro chung, trong đó rủi ro tín dụng là một thành tố?.
Nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng cũng đã được thực hiện rất nhiều tại Việt Nam, điển hình như nghiên cứu của Cấn Văn Lực (2016) về thách thức nội tài của hệ thống NHTM Việt Nam. Báo cáo của IDGVietnam vào năm 2013 chỉ ra rằng rủi ro của NHTM Việt Nam gắn liền với các vấn đề như tín dụng đen, chiếm dụng vốn, nợ xấu và những biến động trên thị trường. Mô hình Quản trị rủi ro “3 lớp phòng vệ” được xây dựng với các thành tố: Lớp phòng vệ 1 là các bộ phận kinh doanh, lớp phòng vệ 2 là Quản lý rủi ro và Lớp phòng vệ 3 là Kiểm toán nội bộ. Điển hình về các phương pháp quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng lớn trên thế giới là mô hình Đo lường rủi ro định lượng và Tổ chức quản trị rủi ro tập trung ERM.
Các mô hình rủi ro định lượng có thể kể đến như Mô hình đo lường tín dụng nội bộ, áp dụng theo quy định của Basel II; Mô hình KAROC để tính hiệu quả của khoản vay. Phương pháp KAROC đảm bảo rằng một khoản vay chỉ được thông qua khi và chỉ khi khoản vay đem lại giá trị cho cổ đông và doanh nghiệp. Tuy nhiên, đi kèm với các phương pháp Định lượng, sự phát triển của Tổ chức quản trị rủi ro tập trung đang đem lại nhiều lợi ích và sự tối ưu cho Ngân hàng. Sự phát triển và biến động của nền kinh tế buộc các Ngân hàng phải có sự đổi mới trong quản trị, thay vì giải quyết từng bài toán đơn lẻ, họ có thể sử dụng các nguồn lực đối ứng để giải quyết các rủi ro phù hợp.
Theo Casualty Actuarial Society, ERM được định nghĩa là một quá trình quản trị rủi ro, trong đó doanh nghiệp kiểm soát, quản lý tất cả các nguồn lực của doanh nghiệp, với mục đích gia tăng giá trị ngắn hạn và dài hạn 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của các cá nhân, tổ chức có quan hệ mật thiết với doanh nghiệp (stakeholders). Điểm nổi trội của ERM đã được Kawamoto (2001) chỉ ra thông qua tính chất tạo nhóm, không đơn lẻ của phương pháp này. ERM sẽ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đang có để giải quyết tổng hợp các rủi ro, thay vì tách chúng thành các rủi ro đơn lẻ. Rủi ro sẽ được xem như một cơ hội để tổ chức có thể kiếm được lợi nhuận chứ không chỉ là thứ cần phải loại bỏ và hạn chế.
Tại VPBank cũng như hầu hết các ngân hàng khác hiện nay, quản trị rủi ro được chia thành các loại rủi ro điển hình và có những phương pháp nhận diện, đo lường và xử lý riêng biệt như Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp… Trong sự so sánh với cách quản trị rủi ro truyền thống phổ biến ở các ngân hàng hiện nay tại Việt Nam, quản trị theo ERM đã biến rủi ro thành một cơ hội thông qua việc điều chỉnh các nguồn lực đang có. D'Arcy (2001) cho rằng mỗi phương pháp quản trị rủi ro truyền thống đều có thời hạn và những đặc điểm riêng, mà việc xử lý từng rủi ro sẽ khiến tổ chức phải tiêu tốn nguồn lực thời gian, không phát huy hiệu quả tối đa. Trong hệ thống ngân hàng hiện nay, với kích cỡ lớn trong tổ chức, việc áp dụng phân tích quản trị rủi ro ERM đang dần trở nên cần thiết và hữu dựng hơn. ERM chịu sự chỉ đạo của Hội đồng Quản trị, chỉ phối bỏi bộ phận quản lý, điều hành trong tổ chức, thích hợp với việc lấp chiến lược và phổ biến rộng rãi.
Ngân hàng là một dạng tổ chức đối diện với đa dạng các loại hình rủi ro, ERM sẽ được thiết lập để nhận diện, đánh giá có hệ thống các tác động và khả năng xảy ra bất cứ rủi ro nào với doanh nghiệp. Bản chất ERM xuất phát từ quản trị doanh nghiệp nói chung và người nghiên cứu đang nhìn nhận Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc thù vì có đa dạng các hoạt động kinh doanh. Ngân hàng cần được phát triển hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động cũng như tìm ra được mảng kinh doanh nào đang hiệu 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quả, hướng đi nào dễ đối mặt với rủi ro, hệ thống khách hàng có được vận hành tối ưu trong việc sử dụng dịch vụ không. Hiện nay, các Ngân hàng đang áp dụng hệ thống ERM để tổng hợp các thông tin tác nghiệp của Ngân hàng để lãnh đạo điều hành và ra quyết định chính xác hơn.
Hệ thống ERM hỗ trợ Ngân hàng chia các loại hình hoạt động và kinh doanh khác nhau, tuy nhiên số liệu lại được tập hợp và tập trung tại một nơi, gọi là lõi hay sổ cái tổng hợp (general ledger). Dựa vào lưu trữ của hệ thống chung, Ngân hàng sẽ xây dựng đội ngũ khai thác số liệu để hoàn thành các báo cáo, giúp nhà quản trị có cái nhìn tổng thể, trực quan để đưa ra quyết sách ứng phó kịp thời và phù hợp. Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã bàn về vấn đề ứng dụng ERM vào quản trị rủi ro tại NHTM Việt Nam. Thực tế một số Ngân hàng cũng đang quan tâm và dành số vốn không nhỏ để triên khai vấn đề này.
Tuy nhiên để hệ thống phát triển đồng bộ, bền vững, cần nhiều sự quan tâm, triển khai từ nhiều đối tượng ngân hàng hơn, chưa nói đến khó khăn trong vấn đề phát triển và nghiệm thu thành công. Ngân hàng là ngành chịu áp lực cạnh tranh và đào thải vô cùng lớn, trong khi đó việc ứng dụng ERM là cả một quãng đường dài. Tuy nhiên, chấp nhận khó khăn để ứng dụng ERM phức tạp hoặc dần thụt lùi so với đối thủ là lựa chọn mà các NHTM tại Việt Nam phải đối diện. Vậy nghiên cứu về hiệu quả của việc triển khai ERM tại VPBank sẽ giải quyết được những vấn đề nghiên cứu lớn nào và mức độ quan trọng, đóng góp của đề tài ra sao?.
Các nghiên cứu trước đó về ERM, đặc biệt là ở Việt Nam đều chưa mang tính bao quát cũng như tính áp dụng thực tiễn cao. Cụ thể ERM mới chỉ được nhìn nhận trên phương diện là một cách thức mà Ngân hàng có thể áp dụng giúp nâng cao hiệu quả, nhưng cụ thể ERM là gì, triển khai như thế nào, ưu, nhược điểm, tính phù hợp trong áp dụng ra sao thì cần phải nghiên cứu sâu hơn. Bên cạnh đó, ERM nên được nhìn nhận trong mối tương quan giữa nhiều phương diện, không chỉ là rủi ro, mà còn trên 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương diện quản trị tổng thể, mục tiêu của nhà quản trị khi áp dụng ERM là gì?, giải quyết được những rủi ro nào, cách đo lường cũng như mức độ ảnh hưởng của ERM trong ngắn, trung, dài hạn. Luận văn cũng đi sâu làm rõ các nghiên cứu thực tiễn trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
ERM không dừng lại ở việc áp dụng trong quản trị rủi ro, thậm chí nhiều nghiên cứu còn đưa ra giải thuyết ERM góp phần làm gia tăng giá trị và độ bền vững cho doanh nghiệp. Đứng trước bài toán chi phí, cơ hội, liệu các Ngân hàng ở Việt Nam có nên áp dụng ERM, vượt qua những khó khăn trong việc triển khai để đem đến giá trị mới cho doanh nghiệp không? 1. Cơ sở lý thuyết về hoạt động kinh doanh tín dụng của Ngân hàng, quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng 1. Đặc thù hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Hoạt động tín dụng là hoạt động sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và phát triển của NHTM.