CHƯƠNG 1. TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu VÀ cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM 1. Tông quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu Quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề đang được quan tâm cúa nhiều nhà nghiên cứu và các lãnh đạo ngân hàng.
Hiện tại, có nhiều công trình nghiên cứu, thảo luận khoa học xung quanh vấn đề quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng. Giáo sư Ruth Taplin (2005), giám đốc trung tâm nghiên cứu Nhật Bản và Đông Á, chủ biên cuốn sách “Risk Management and Innovation in Japan, Britain and the USA”, cuốn sách nói về “Quản trị rủi ro và đổi mới ở Nhật Bản, Anh và Mỹ”. Theo đó, trong nghiên cứu có nói đến ngân hàng phát triển Nhật Bản DBJ về những thay đồi trong quăn trị rủi ro tại ngân hàng này. Ngân hàng tập trung cho vay đối với các ngành công nghiệp và kỹ thuật góp phần thúc đấy sự phát triển của Nhật Bản.
Nghiên cứu cũng chỉ ra những thay đổi trong cách thức hoạt động nói chung cũng như thay đối trong công tác quản trị rủi ro nói riêng của DBJ trong thời gian vừa qua. Trong đó, đánh giá cao sự nổ lực thay đổi trong mục tiêu chiến lược, đề ra những chính sách tài chính đặc biệt, phù họp với nhũng mục tiêu mà DBJ hướng đến. Tác giả Josel Basis (1998), cuồn sách “Risk Management in Banking” nói về các khải niệm cơ bản về rủi ro tín dụng và các mô hình quản trị rủi ro tín dụng. Tuy nhiên tác giả chi đưa ra các giải pháp ngăn ngừa rủi ro chứ không đi vào vấn đề quản trị rủi ro, tức là coi rủi ro như là một vấn đề ngân hàng phải chấp nhận hay nói cách khác coi rủi ro là vấn đề luôn xảy ra trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, rủi ro luôn song hành và phụ thuộc vào “khẩu vị” rủi ro của mồi ngân hàng.
5 Luận án văn thạc sỹ cùa tác giả Charles Velthius Kabudula (2015), trường Đại học Blantyre International “Analysis of the Credit risk management efficiency of Financial performance in Malawis Commerical Banking Sector”. Tác già đã hệ thống được cơ sờ lý luận về các tài liệu, luật chuẩn mực về quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Malawis. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cún và đưa ra giải pháp lại lan man sang nhiều chủ đề khác, chưa chú trọng vào việc đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp có tính thực tế. Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Hiên (2016), trường Học viện tài chính: “Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Quân Đội” đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Quân Đội, trong đó nhấn mạnh vào khía cạnh pháp lý của hoạt động này.
Đề tài đã phân tích, đánh giá thực tiễn quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Quân đội, có nhấn mạnh trọng tâm vào khía cạnh kỳ thuật nghiệp vụ và khía cạnh pháp lý của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Quân đội. Từ đỏ tác giả đã đề xuất một số kiến nghị (tập trung vào khía cạnh kỳ thuật, nghiệp vụ và pháp lý) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối ngân hàng Quân Đội. Luận văn thạc sỹ Bùi Thị Hải Yến (2015), trường Đại học Quốc gia Hà Nội: “Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam”. Tác giả đã trình bày gần như đầy đủ về vai trò công tác quản trị tín dụng cũng như các tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản trị tín dụng.
Tuy nhiên, tác giả chủ yếu trình bày dựa trên các văn bản pháp luật về quản trị tín dụng mà chưa the hiện được tầm lý luận của chương này. Luận văn thạc sỹ Nguyễn Lan Khanh (2010), trường Đại học Ngoại Thương: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) - Thực trạng và giải pháp”. Tác giả đã giải thích những vấn đề cơ bàn 6 về quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam, trong đó có nghiên cứu hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ. Khoảng trống nghiên cứu Trong các luận văn nghiên cứu đuợc nhắc đến ở trên, tác giả đã hệ thống hóa, phân tích và đưa ra sự lựa chọn về khái niệm quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại; làm rõ vai trò và sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh; định hướng cho các ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí toàn cầu nói riêng trong quá trình xây dựng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng.
Một số giải pháp đã và đang được triển khai trong thực tiễn hoạt động tại Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí toàn cầu. Điển hình là việc thay đổi mô hình tổ chức phục vụ công tác quản trị rủi ro. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu vẫn mang tính chất định tính, chưa chỉ ra được 1Ĩ1Ô hình để quản trị rủi ro, đo lường rủi ro, tồn thất ngân hàng phải gánh chịu khi rủi ro tín dụng xảy ra. Bên cạnh đó, cơ sở lý luận chưa có tính hệ thống và cập nhật về rủi ro tín dụng trong giai đoạn 2018 - 2021, khi mà việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực thi lộ trình quản trị rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel II.
Ngoài ra, nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19. Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí toàn cầu có một số khác biệt về hệ thống, chính sách và định hướng phát triển so với các chủ thể trên. Do vậy, trong luận văn này ngoài việc đưa ra các hệ thống cơ sở lý luận, tác giả sẽ mô tả toàn diện hệ thống, chính sách, biện pháp quản trị rủi ro của Ngân hàng Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu khí toàn cầu. Những “khoảng trống” trên đây của các công trình nghiên cứu đã gợi ý tác giả những hướng nghiên cứu mới nhằm thực hiện tốt luận văn của mình.
Cơ sở lý luận vê hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Hoạt • động • o và rủi ro tín dụng • O tín dụng • ngân • O tại o o thương hàng O mại • 1.1 Khái niệm và Phân loại Hoạt động tín dụng a, Khái niệm Theo điều 4 luật tổ chức tín dụng năm 2010: “ngăn hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngán hàng và các hoạt động kỉnh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lọi nhuận”. Và các hoạt động thường xuyên của ngân hàng thương mại là: huy động vốn, sử dụng vốn và cấp tín dụng. Trong đó, hoạt động cấp tín dụng được coi là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì phần lớn lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu là thu từ hoạt động này.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu. Giá ( lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoảng thời gian tồn tại khoản vay.Rose 2001) b, Phân loại Cùng với sự phát triến của nền kinh tế với xu hướng tự do hóa, các ngân hàng thương mại hiện nay luôn nghiên círu và đưa ra các hình thức tín dụng khác nhau, để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất, từ đó đa dạng hóa các danh mục đầu tư, mở rộng tín dụng, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro. Phân loại tín dụng một cách khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả 8 quản trị rủi ro tín dụng. Để có cái nhìn trực diện, tổng quát và tránh nhầm lần ta phân loại tín dụng theo các tiêu chí sau: Căn cứ vào thời hạn cho vay - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng (dưới 1 năm).
Tín dụng ngắn hạn được sử dụng để bổ sung vốn lưu động và ___ r _ - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đên 5 năm, khoản tín dụng trung hạn thường được sử dụng đê đáp ứng nhu câu vôn thực hiện các dự án tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, đầu tư theo chiều sâu. - Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, khoản tín dụng dài hạn thường được sử dụng đế đầu tư xây dựng các công trình mới. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay - Tín dụng bất động sản: Là các khoản tín dụng được đàm bảo bằng bất động sản. Bao gồm tín dụng ngắn hạn do xây dựng và mở rộng đất đai, tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ trang trại và bất động sản ở nước ngoài.
- Tín dụng công thương nghiệp: Là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua hàng hoá nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả lương. - Tín dụng nông nghiệp: Là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp nhằm tài trợ cho các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc. - Tín dụng cá nhân: Là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân để mua sắm hàng hoá tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà cửa. - Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Là các khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty bão hiểm, công ty tài chính và các tồ chức tài chính khác.
9 - Cho thuê tài chính: Là việc ngân hàng mua các trang thiêt bị máy móc và cho thuê lại chúng. - Tín dụng khác: Gồm các khoản tín dụng khác chưa được phân loại ở trên. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đổi vói khách hàng - Tín dụng có tài sản bảo đảm: Là loại tín dụng theo đó nghĩa vụ của chủ thề vay vốn được đảm bảo bằng tài sản cúa chủ thể vay vốn, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc đảm bảo bằng uy tín và năng lực tài chính của bên thứ ba.