CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các vấn đề cơ bản về rủi ro tài chính trong doanh nghiệp 1. Khái niệm chung về rủi ro Hoạt động kinh tế - xã hội của loài người ngày càng đa dạng và phong phú, kết quả các hoạt động chịu sự tác động của ngày càng nhiều yếu tố vì vậy rủi ro luôn tiềm ẩn trong xã hội loài người.
Tuy nhiên, khái niệm về rủi ro nói chung, rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh nói riêng hiện vẫn còn nhiều tranh cãi. Nếu có một tổ chức Quốc tế nào đứng ra để định nghĩa về khái niệmrủi ro thì chắc hẳn họ là một tổ chức can đảm và đông đảo thành viên.Bởi vì quan điểm về rủi ro dựa trên những cái nhìn chủ quan của mỗitrường phái khác nhau, mỗi trường phái lại chia thành tập hợp các gócnhìn khác nhau, mỗi tập hợp lại bao gồm các cá nhân có khẩu vị riêngvề rủi ro. Vì vậy để bàn về rủi ro với một sự thống nhất về mặt địnhnghĩa có vẻ như là điều bất khả thi, nhưng hãy cùng nhìn lại quá khứđể xem những chuyên gia nói về rủi ro thế nào, từ đó chúng ra sẽ cócái nhìn tổng quan hơn về nó. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro: Quan điểm truyền thống (Theo trường phái tiêu cực): - Theo từ điển Oxford: “ Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại”.
Một số từ điển khác cũng đưa ra khái niệm tương tự: “ rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát hay hư hỏng”, hay “ rủi ro là yếu tố liên quan đến sự nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn’ 8 - Tiêu chuẩn quản lý rủi ro được chính thức ban hành vào năm 1991 tại Na uy, trong đó định nghĩa “ rủi ro là hiện thân mối nguy hiểm không dự đoán được” - Một số tổ chức hiệp hội ở một số nước trước đây như: Hiệp hội tiêu chuẩn Canada, Hiệp hội nghiên cứu và thông tin xây dựng Anh quốc, tổ chức viễn thông và máy tính trung tâm Anh quốc, … định nghĩa rủi ro là khả năng xuất hiện của các sự kiện, tình huống hiểm hoạ, mất mát và các hậu quả không dự đoán trước được của nó” - Ở Việt nam, khái niệm rủi ro cũng được hiểu theo nghĩa là mất mát, thiệt hại, khó khăn, nguy hiểm hoặc điều kiện không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo từ điển tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà nội xuất bản năm 1995 thì “ rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến” - Theo quan điểm truyền thống, khi đề cập tới rui ro, người ta liên tưởng đến tính tiêu cực của rủi ro. Rủi ro được hiểu đó là sự mất mát, thiệt hại. Rủi ro là không thể nhận dạng và đo lường được.
Quan điểm trung hòa - Hiệp hội quản lý dự án Anh quốc cho rằng “ rủi ro là một sự kiện không chắc chắn hoặc tập hợp các hoàn cảnh tác động làm thay đổi các mục tiêu của dự án” - Viện tiêu chuẩn Anh quốc định nghĩa: “ rủi ro là sự kiện không chắc chắn tác động đến các kết quả kinh doanh hoặc mục tiêu của dự án”. - Tiêu chuẩn quản lý rủi ro của Úc và New Zealand cũng đưa ra định nghĩa: “Rủi ro là khả năng gây sự kiện tác động ảnh hưởng đến các mục tiêu”. Các quan điểm này đều thống nhất rủi ro là sự kiện không chắc chắn, tác động làm thay đổi mục tiêu của dự án. Tuy nhiên bản chất của tác động không được chỉ rõ là tác động tiêu cực hay tích cực, như vậy có thể hiểu tác động này bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực và cũng không đề cập tới mức độ cũng như khả năng xảy ra như thế nào.
Quan điểm hiện đại 9 Ngày nay, một số học giả trên thế giới cho rằng rủi ro là có thể đo lường được, và nói đến rủi ro là bao hàm cả thiệt hại cũng như các lợi ích do các tác động ngẫu nhiên mang lại. - Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được (Frank Knight)[21] - Rủi ro là một sự tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất (Irving Preffer)[23]. - Rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được (Marilu Hurt McCarty) [22] - Rủi ro là tình hình sự việc phát triển theo một xác suất nhất định hoặc một sự việc lớn hay nhỏ được bố trí theo một xác suất (Nguyễn Văn Tiến, 2014)[9]. - Rủi ro là biến động tiềm ẩn của kết quả (Đoàn Thị Hồng Vân, 2007) [11] - Khái niệm rủi ro gắn liền với khả năng xảy ra của một số biến cố không lường trước được hay đúng hơn là một biến số mà ta hoàn toàn không chắc chắn.
(Geogers Hirsch) [24] Bài luận văn sẽ đi theo quan điểm trung hòa để định nghĩa rằng rủi ro bao gồm cả yếu tố tích cực và tiêu cực: “Rủi ro là một sự kiện không chắc chắn hoặc tập hợp các hoàn cảnh tác động làm thay đổi các mục tiêu của dự án” 1. Khái niệm rủi ro tài chính Rủi ro tài chính của doanh nghiệp là những rủi ro phát sinh khi doanh nghiệp huy động và sử dụng nguồn vốn nợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chu trình hoạt động của doanh nghiệp bắt đầu từ việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nào sẽ chịu rủi ro kinh doanh mang tính đặc thù của lĩnh vực đó, tiếp đến doanh nghiệp đứng trước lựa chọn mức độ sử dụng các tài sản có chi phí cố định kinh doanh khác nhau hay nói cách khác là việc quyết định lựa chọn đầu tư vào tài sản cố định có giá trị lớn, hiện đại hay đầu tư vào tài sản cố định có giá trị vừa phải. Quyết định đầu tư càng nhiều vào tài sản có chi phí cố định kinh doanh khi đó quan điểm đưa ra là doanh nghiệp đang chịu rủi ro hoạt động ở mức cao.
Mặt khác, việc bố trí nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh 10 doanh của doanh nghiệp như thế nào, tỷ lệ trên tổng vốn cao hay thấp điều này phần nào phản ánh mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận này “Rủi ro tài chính là biến cố rủi ro khi công ty huy động nợ phục vụ cho hoạt động kinh doanh tuy nhiên việc sử dụng nợ không đạt hiệu quả như mong đợi ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp”. Chu trình hoạt động của doanh nghiệp bắt đầu từ việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nào sẽ chịu rủi ro kinh doanh mang tính đặc thù của lĩnh vực đó, tiếp đến doanh nghiệp đứng trước lựa chọn mức độ sử dụng các tài sản có chi phí cố định kinh doanh khác nhau hay nói cách khác là việc quyết định lựa chọn đầu tư vào tài sản cố định có giá trị lớn, hiện đại hay đầu tư vào tài sản cố định có giá trị vừa phải. Quyết định đầu tư càng nhiều vào tài sản có chi phí cố định kinh doanh khi đó quan điểm đưa ra là doanh nghiệp đang chịu rủi ro hoạt động ở mức cao.
Mặt khác, việc bố trí nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào, tỷ lệ trên tổng vốn cao hay thấp điều này phần nào phản ánh mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận này “Rủi ro tài chính là biến cố rủi ro khi công ty huy động nợ phục vụ cho hoạt động kinh doanh tuy nhiên việc sử dụng nợ không đạt hiệu quả như mong đợi ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp’’ 1.3 Các loại rủi ro tài chính (Xem bảng 1.1 phân loại rủi ro tài chính) 11 Bảng 1.1 Phân loại rủi ro tài chính Tiêu thức Các loại rủi ro tài chính STT phân loại - Rủi ro thanh khoản: là rủi ro khi doanh nghiệp không đủ các nguồn lực thanh toán các khoản nợ tới hạn. - Nhóm rủi ro thị trường: +Rủi ro tỷ giá: Là rủi ro xảy đến do những biến động của tỷ giá gây ra +Rủi ro giá bán hàng hóa giảm: là rủi ro xảy đến khi giá bán hàng hóa của doanh nghiệp giảm so với kỳ vọng làm Theo cách giảm doanh thu và lợi nhuận thực tế giảm so với kỳ vọng. 1 tiếp cận về +Rủi ro lãi suất: Là rủi ro xảy đến khi lãi suất tăng ảnh hưởng tới chi phí vốn, khả năng thanh toán lãi vay của quản lý tài doanh nghiệp.
chính +Rủi ro chi phí tăng: là rủi ro xảy đến khi giá cả các yếu tố đầu vào biến động tăng làm tăng chi phí của doanh nghiệp dẫn tới giảm lợi nhuận so với dự kiến - Rủi ro dòng tiền: là rủi ro xảy đến từ việc quản lý dòng tiền vào ra không hợp lý hay là việc chuyển đổi các tài sản không bắt kịp với nhu cầu thanh toán các khoản nợ tới hạn. - Rủi ro đầu tư/ thoái vốn: Là rủi ro xẩy đến do quyết định đầu tư không hiệu quả dẫn tới lợi nhuận không như mong đợi - Rủi ro huy động vốn: Là rủi ro xảy đến khi số vốn huy động được không đạt như mong đợi - Rủi ro trốn nợ: là rủi ro xảy đến khi đối tác của doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn với doanh nghiệp. - Rủi ro hệ thống là những rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các DN không tính đến tình trạng tài chính hay trình độ quản lý của DN. Do vậy, không thể giảm thiểu rủi ro này bằng cách đa dạng hoá.
Trên thực tế, khái niệm “rủi 2 Theo phạm ro hệ thống” và “rủi ro không thể đa dạng hoá” có thể được sử dụng thay thế cho nhau. Các rủi ro tài chính thuộc vi nhóm này gồm có: rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro biến động giá. - Rủi ro phi hệ thống là những rủi ro chỉ tác động đến một hoặc một số DN. Các rủi ro tài chính thuộc nhóm này gồm có: rủi ro đòn bẩy tài chính, rủi ro tín dụng thương mại, rủi ro đầu tư ngoài ngành.
Các rủi ro này có thể được giảm thiểu bằng cách đa dạng hoá. Chẳng hạn, các DN lựa chọn cơ cấu vốn phù hợp để tránh gánh nặng lãi vay, đồng thời tận dụng được lợi thế của lá chắn thuế.