CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Liên quan tới vấn đề quản trị nhân lực trong doanh nghiệp có rất nhiều đề tài nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc. - Bài viết “Kinh nghiệm quản lý nguồn nhân lực trong các Công ty vừa và nhỏ ở Châu Á” của tác giả Vũ Văn Tuấn [24] đã trình bày những kinh nghiệm về cách thức quản lý nguồn nhân lực trong các công ty vừa và nhỏ ở Châu Á trên cơ sở tổng kết những nghiên cứu thực tế ở các Công ty có các chủ sở hữu thuộc các nguồn gốc dân tộc khác nhau ở Philippine. Tuy các nghiên cứu chủ yếu dựa trên khảo sát các Công ty ở Philippine, song những kết quả của nó khá phù hợp với hầu hết các nƣớc khác trong khu vực Châu Á.
Những kinh nghiệm này hy vọng sẽ là những bài học hữu ích cho các chủ doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình quản lý và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp của họ. - Bài viết “Bàn về sự tích hợp chiến lược nguồn nhân lực với chiến lược Công ty” của tác giả Đoàn Gia Dũng đăng trên Tạp chí Khoa học và công nghệ Đà Nẵng [22] cho thấy thực tế rất nhiều doanh nghiệp coi trọng nguồn nhân lực, tuy vậy họ không biết nên tiến hành các hoạt động đối với nguồn nhân lực này nhƣ thế nào. Trong nhiều doanh nghiệp có khuynh hƣớng tuyển dụng con em nhân viên Công ty và xem đó nhƣ là hình thức động viên họ. Rõ ràng, các doanh nghiệp rất cần một cách tiếp cận mới hơn về nguồn nhân lực mà bắt nguồn từ nhận thức vai trò của nguồn nhân lực và tìm mọi cách gia tăng sự phù hợp chiến lƣợc nguồn nhân lực với chiến lƣợc Công ty.
- Luận văn thạc sĩ: Hoàn thiện công tác quản trị nhân lực tại Viễn 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông Bắc Giang. Học viện Công nghệ Bƣu chính viễn thông, 2012 [8]. Luận văn đã nghiên cứu, tổng hợp và hệ thống hoá cơ sở lý luận của công tác quản trị nhân lực trong doanh nghiệp; Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị nhân lực tại Viễn thông Bắc Giang, chú trọng công tác tuyển dụng, sắp xếp và chế độ đãi ngộ cho ngƣời lao động, rút ra những ƣu điểm cần phát huy và những nhƣợc điểm cần khắc phục; Đề xuất những kiến nghị, những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân lực đặc biệt là công tác tuyển dụng, sắp xếp và chế độ đãi ngộ cho ngƣời lao động, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Viễn thông Bắc Giang. - Cuốn “Vốn nhân lực” (Human Capital) của Gary Becker [13], Tác giả đƣa khái niệm vốn con ngƣời để dẫn đến một chƣơng trình nghiên cứu tại trƣờng Đại học Chicago vào đầu những năm 1960.
Nó nhằm mục đích mở rộng thuyết tổng hợp tân cổ điển: sự tích lũy vốn con ngƣời, cũng giống nhƣ vốn hữu hình, tuân thủ các nguyên tắc về tính duy lý của con ngƣời kinh tế. Tác giả đã xây dựng một lý thuyết về cơ hội của loại đầu tƣ này và đề xuất một cách mô hình hóa những khác biệt về tiền lƣơng, đồng thời làm đổi mới các nghiên cứu phân tích kinh tế học về dân số, kinh tế học về nhân khẩu, khi đƣa nguồn nhân lực làm vai trò trung tâm. Human Resource Management in a Business Context, International Thomson Business Press. Một tổ chức hay doanh nghiệp có thể tăng lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách sử dụng ngƣời lao động một cách hiệu quả, tận dụng kinh nghiệm và sự khéo léo của họ nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đặt ra.
Quản trị nhân lực nhằm mục đích tuyển chọn đƣợc những ngƣời có năng lực, nhanh nhạy và cống hiến trong công việc, quản lý hoạt động và khen thƣởng kết quả hoạt động cũng nhƣ phát triển năng lực của họ. Các nghiên cứu và cơ sở lý thuyết sẽ giúp Tác giả vận 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng vào thực trạng Công ty TNHH tƣ vấn Thuế, Kế toán và Kiểm toán AVINA – IAFC và đƣa ra các giải pháp hợp lý nhất. Tuy nhiên, vấn đề quản trị nhân lực ở Công ty TNHH tƣ vấn Thuế, Kế toán và Kiểm toán AVINA – IAFC chƣa có công trình nghiên cứu nào. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC 1.
Khái niệm và vai trò của quản trị nhân lực 1. Khái niệm quản trị nhân lực Quản trị Quản trị là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực nhƣ: Quản trị tài chính, quản trị nhân lực, quản trị Marketing, quản trị sản xuất.Quản trị nói chung theo tiếng Anh là "Management" vừa có nghĩa là quản lý, vừa có nghĩa là quản trị, nhƣng hiện nay đƣợc dùng chủ yếu với nghĩa là quản trị. Tuy nhiên, khi dùng từ, theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ quản lý gắn liền với với quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội, tức là quản lý ở tầm vĩ mô. Còn thuật ngữ quản trị thƣờng dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp.
Có rất nhiều quan niệm về quản trị đƣợc sử dụng trong nghiên cứu và thực tiễn. - Quản trị là các hoạt động đƣợc thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của những ngƣời khác. Quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những ngƣời cộng sự khác cùng chung một tổ chức; - Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tƣợng quản trị nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra trong một môi trƣờng luôn luôn biến động; - Quản trị là một quá trình nhằm đạt đến các mục tiêu đề ra bằng việc phối hợp hữu hiệu các nguồn lực của doanh nghiệp. Theo quan điểm hệ thống, quản trị còn là việc thực hiện những hoạt động trong mỗi tổ chức một cách có ý thức và liên tục.
Quản trị một doanh nghiệp tồn tại trong một hệ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống bao gồm các khâu, các phần, các bộ phận có mối liên hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển [26]. Những quan niệm trên cho dù có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở chỗ quản trị phải bao gồm ba yếu tố (điều kiện): Thứ nhất: Phải có chủ thể quản trị là tác nhân tạo ra tác động quản trị và một đối tƣợng quản trị trực tiếp. Đối tƣợng bị quản trị phải tiếp nhận sự tác động đó. Tác động có thể chỉ một lần và cũng có thể nhiều lần.
Thứ hai: Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tƣợng. Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. Sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tƣợng quản trị đƣợc thực hiện trong một môi trƣờng luôn luôn biến động. Về thuật ngữ chủ thể quản trị, có thể hiểu chủ thể quản trị bao gồm một ngƣời hoặc nhiều ngƣời, còn đối tƣợng quản trị là một tổ chức, một tập thể con ngƣời, hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị đất đai, thông tin.
Thứ ba: Phải có đủ nguồn lực để chủ thể quản trị khai thác và vận dụng trong quá trình quản trị. [26] Quản trị nhân lực “ Quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lƣợng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lƣợng và chất lƣợng” [6,tr8] “ Quản trị nhân lực đi sâu nghiên cứu khai thác mọi tiềm năng có trong mỗi nhân viên, khuyến khích họ làm việc chủ động, sáng tạo, với hiệu suất cao, làm việc tận tâm, trung thành với Công ty”. Khái niệm này có tầm bao quát rộng hơn nhƣng dễ làm cho mọi ngƣời hiểu quản trị nhân lực chỉ là một chức năng, một công đoạn riêng biệt của quản trị kinh doanh, đồng thời cũng chƣa khái quát tới các lĩnh vực tổ chức và điều hành nhân sự…[5,tr13] “ Quản trị nhân lực là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân viên thông qua tổ chức, nhằm đạt đƣợc mục tiêu chiến lƣợc và định hƣớng viễn cảnh của tổ chức” [10,tr17]. Tóm lại, khái niệm chung nhất của quản trị nguồn nhân lực đƣợc hiểu là những hoạt động nhằm tăng cƣờng những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt đƣợc các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân.
Quản trị nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con ngƣời trong các tổ chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản - Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức. - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên đƣợc phát huy tối đa các năng lực cá nhân, đƣợc kích thích động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với doanh nghiệp Nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nhân lực khác với nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản thân của con ngƣời. Quản trị nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị với các yếu tố khác trong quá trình sản xuất.
Vai trò và chức năng của quản trị nhân lực Vai trò của quản trị nhân lực Một là, do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trƣờng nên các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tiến tổ chức của mình theo hƣớng tinh giảm gọn nhẹ, năng động, trong đó yếu tố con ngƣời mang tính quyết định. Quản trị nhân lực là một trong những chức năng cơ bản của quá trình quản trị, bởi con ngƣời bao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất của một doanh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Do đó thông qua quản trị nhân lực giúp doanh nghiệp thực hiện việc lựa chọn, sắp xếp con ngƣời có năng lực, phẩm chất phù hợp với các vị trí trong bộ máy tổ chức. Hai là, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng với sự phát triển kinh tế buộc các nhà quản trị phải biết làm cho tổ chức của mình thích ứng.