Chương 1 – Một số vấn đề chung về Kinh doanh quốc tế ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------- - Thực hiện được marketing quốc tế: Vai trò này thể hiện rất rõ khi các nước đang phát triển thông qua các công ty đa quốc gia tiếp cận được với thị trường quốc tế. Ngược lại, hình thức này cũng giúp cho các công ty đa quốc gia, các hãng sản xuất và chế tạo máy móc thiết bị bán được sản phẩm của họ cho các nước đang phát triển. Hàng đổi hàng được thức hiện trên cơ sở các nguyên tắc sau: - Hàng đổi hàng chỉ thực hiện được khi cả hai phía đối tác nhận được sự bảo lãnh của các ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò là người đứng ra bảo đảm cho cả hai phỉa thực hiện hợp đồng hàng đổi hàng - Phải đảm bảo chất lượng của các hàng hóa trong trao đổi.
Trong trường hợp này, các bên phải có sự tin tưởng lẫn nhau. - Phải đảm bảo có sự tăng trường về xuất khẩu hoặc thị phần, giúp cho đối tác từng bước xâm nhập thị trường mới - Phải được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng đôi bên cùng có lợi. Hàng đổi hàng có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước đang chuyển đổi. Thực tế đã chỉ ra rằng hàng đổi hàng có ý nghĩa quan trọng trong phát triển các ngành công nghiệp chế biến, nhất là chế biến nông sản.
Sự phát triển của công nghiệp chế biến nông sản góp phần ổn định và phát triển kinh tế, tạo việc làm cho người lao động ở các nước đang phát triển. Hàng đổi hàng là phương thức đầu tư mới của các đối tác nước ngoài vào Việt Nam. Phương thức này sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển tạo thêm việc làm ổn định, từng bước xâm nhập thị trường thế giới. Tuy nhiên, đây là phương thức mới trên cơ sở quan hệ kinh tế bình đẳng với các nước tiên tiến.
Việt Nam cần có những quy định và hướng dẫn cụ thể và tạo điều kiện cho phương thức này phát triển.3 VAI TRÒ CỦA KINH DOANH QUỐC TẾ Sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức kinh doanh quốc tế đã chứng tỏ vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. - Trước hết, kinh doanh quốc tế giúp cho các tổ chức kinh tế thoả mãn nhu cầu và lợi ích của họ về trao đổi sản phẩm, về vốn đầu tư, về công nghệ tiên tiến. - Kinh doanh quốc tế giúp cho các quốc gia tham gia sâu rộng vào quá trình liên kết kinh tế, phân công lao động xã hội, hội nhập vào thị trường toàn cầu. - Đồng thời, tham gia vào thị trường thế giới còn giúp cho các doanh nghiệp khai thác triệt để các lợi thế so sánh của mỗi quốc gia.
- Mở rộng các hoạt động kinh doanh quốc tế, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học và chuyển giao công nghệ, giúp cho các nước có nền kinh tế kém phát triển có cơ hội cải tiến lại cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. - Mặt khác, chỉ có thông qua các lĩnh vực hoạt động của kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển có thể tiếp thu kiến thức Marketing, mở rộng thị trường trong kinh doanh thương mại quốc tế, tăng tính cạnh tranh sản phẩm. - Hơn nữa, thị trường nước ngoài có thể cung cấp cho thị trường nội địa các yếu tố của quá trình sản xuất, từ đó nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm 11 Chương 1 – Một số vấn đề chung về Kinh doanh quốc tế ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------- bảo tính cạnh tranh cho sản phẩm, đảm bảo cho hàng hoá đứng vững trên thị trường nước ngoài.4 ĐẶC TRƯNG CỦA KINH DOANH QUỐC TẾ - Kinh doanh quốc tế là hoạt động kinh doanh với sự tham gia của các doanh nghiệp, cá nhân từ hai quốc gia trở lên. - Kinh doanh quốc tế luôn hướng tới các môi trường mới, xa lạ và rộng lớn.
Các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường này thường gặp phải rủi ro lớn hơn. Các rủi ro này thường gặp là những rủi ro quốc gia và rủi ro kinh doanh. - Kinh doanh quốc tế diễn ra trên các thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt, với các đối thủ cạnh tranh có nhiều kinh nghiệm. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
- Kinh doanh quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định được chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thị trường và từng đối tác. Các hoạt động chức năng của doanh nghiệp phải được thay đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh. - Kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có uy tín để nâng cao vị thế và thị phần của mình trên thị trường quốc tế. Kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận ngày càng lớn.
Điều này khó có thể đạt được đối với những doanh nghiệp chỉ thực hiện kinh doanh trong nước.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH DOANH QUỐC TẾ 1. Các điều kiện kinh tế Thực tế nền kinh tế thế giới thời gian qua càng khẳng dịnh rằng những điều kiện kinh tế có tác động rất mạnh đến khối lượng giao dịch giữa các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế. Song sự gia tăng thương mại và đầu tư luôn có xu hướng biến đổi nhanh hơn sự thay đổi của nền kinh tế. Sự thay đổi về mức giàu có trên thế giới đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ giá trị hàng hóa lưu chuyển quốc tế.
Tỉ lệ mậu dịch quốc tế đang có xu hướng tăng nhanh hơn tỉ lệ tổng sản phẩm thế giới ở một thời kì dài. Điều này có nghĩa là sự tương quan so sánh giữa kinh doanh và sản xuất không cố định mà luôn thay đổi qua các thời kì. Chính sự thịnh vượng sẽ làm gia tăng tỉ lệ trao đổi các sản phẩm chế biến và giảm tỉ lệ buôn bán các sản phẩm sơ chế, các nông sản phẩm. Mức độ gia tăng khối lượng và giá trị hàng hóa trong kinh doanh tùy thuộc rất lớn vào mức độ can thiệp của chính phủ.
Thông qua các chính sách, công cụ kinh tế vĩ mô mà nhà nước thực hiện sự điều tiết khối lượng và giá trị hàng hóa từ nước ngoài vào và đặc biệt họ sẽ làm giảm bớt khối lượng và mặt hàng nhập khẩu khi nền kinh tế đang bị trì trệ. Còn các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế chỉ mở rộng kinh doanh ở nước ngoài khi nhu cầu ở đó vẫn gia tăng đều đặn trong một thời kì dài. Ngày nay trong kinh doanh quốc tế, nhóm các mặt hàng lương thực , thực phẩm , đồ uống, mặt hàng truyền thống và mặt hàng chứa nhiều nguyên vật liệu tự nhiên giảm nhanh về tỉ trọng. Trong khi đó, tỉ trọng kinh doanh các mặt hàng chế biến, các mặt hàng có hàm lượng vốn và kĩ thuật cao, các mặt hàng mới đang có xu hướng tăng nhanh.
Điều này đang tác động rất lớn đến lĩnh vực kinh doanh quốc tế nói chung, thương mại và đầu tư nói riêng. Chính vì vậy, việc đa dạng hóa các hình thức và mặt hàng kinh doanh, việc quyết định chọn lựa hình 12 Chương 1 – Một số vấn đề chung về Kinh doanh quốc tế ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------- thức kinh doanh nào, mặt hàng nào, lĩnh vực nào có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó góp phần tạo cho doanh nghiệp những điều kiện, cơ hội để vươn lên thực hiện kinh doanh một cách hiệu quả.2 Khoa học và công nghệ Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng kĩ thuật trước kia,cách mạng khoa học kĩ thuật ngày nay đang thúc đẩy và làm đột biến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở từng quốc gia, làm cho nhiều quốc gia có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chính sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ trong thế kỉ này đã làm cho nhiều nghành công nghiệp như công nghiệp luyện kim đen, công nghiệp đóng tàu, công nghiệp cơ khí đang đứng trước nhiều thách thức lớn.
Nhiều sản phẩm mới xuất hiện thay thế những sản phẩm cũ và làm thay đổi vị trí của từng quốc gia, từng doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Nhiều sản phẩm mới như máy vi tính, hàng điện tử, máy bay đang chiến tỉ trọng lớn và tăng thị phần trong hoạt động kinh của từng doanh nghiệp. Hiện nay, hầu hết những kĩ thuật, công nghệ mới, hiện đại đều xuất phát từ các quốc gia tiên tiến đã công nghiệp hóa. Vì vậy, các doanh nghiệp của các quốc gia này hoặc là trực tiếp nắm hoặc là thông qua liên kết, liên doanh để nắm giữ ngày càng lớn phần mậu dịch và phần đầu tư trong lĩnh vực chế biến.
Đây là khu vực kinh tế có tốc độ tăng trường cao. Tình hình này đang là một sức ép lớn đối với các quốc gia nghèo và các doanh nghiệp có thị phần nhỏ và khả năng cạnh tranh kém hơn. Điều kiện chính trị, xã hội và quân sự Sự ổn định hay bất ổn về chính trị, xã hội là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Hệ thống chính trị và các quan điểm về chính trị, xã hội suy đến cùng đều tác động trực tiếp đến phạm vi, lĩnh vực, mặt hàng, đối tác kinh doanh, … Trong những năm của thập kỉ 90, tình hình chính trị, xã hội của các quốc gia trên thế giới đã có nhiều biến động lớn theo chiều hướng “bất ổn” đối với các quan hệ song phương và đa phương.
Điều này trên thực tế đã đưa đến sự thiệt hại và rủi ro lớn cho nhiều công ty và quốc gia trên thế giới. Những xung đột về quân sự dù ở quy mô lớn hay nhỏ, dù là trong nội bộ quốc gia (nội chiến) hay giữa các quốc gia với nhau đều dẫn đến làm thay đổi lớn về sản phẩm được sản xuất. Cụ thể là xung đột quân sự đã làm phá vỡ những quan hệ kinh doanh truyền thống, làm thay đổi hệ thống vận tải , làm thay đổi khối lượng mậu dịch và đầu tư quốc tế, làm chuyển hướng mục đích sản xuất sản phẩm tiêu dùng sang sản xuất sản phẩm phục vụ mục đích quân sự đã làm cho kinh doanh thay đổi, đầu tư bị gián đoạn, quan hệ giữa các quốc gia bị xấu đi và tạo lập nên những hàng rào “vô hình” ngăn cản hoạt động kinh doanh quốc tế.