CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Quản trị công ty (Corporate governance) 1. Khái niệm Thuật ngữ “Quản trị công ty – Corporate governance” được đề cập đến đầu tiên bởi Robert (1984), và trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị tại Mỹ cũng như các nhà nghiên cứu sau sự sụp đổ của tập đoàn năng lượng Enron (2001).
Đến những năm 1980, QTCT đã trở thành tiêu điểm tại Anh sau sự kiện Maxwell. Đến nay, đã có nghiều nghiên cứu được thực hiện liên quan đến QTCT, tuy nhiên chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm này. Nghiên cứu của Oman (2001), Khan (2011) cho rằng QTCT liên quan đến quản trị mối quan hệ giữa các nhà quản trị và các bên liên quan, trong khi nghiên cứu của Kim và cộng sự (2005) cho rằng QTCT là sự kết hợp của nhiều cơ chế khác nhau nhằm chỉ đạo và kiểm soát công ty. Nhìn chung, QTCT có thể được coi là một tập hợp các cơ chế có thể giúp các bên liên quan tự bảo vệ mình khỏi những hành vi cơ hội của doanh nghiệp, các nhà quản lý.
Theo nghĩa hẹp, Shleifer và Vishny (1997) định nghĩa QTCT là những cách thức mà các nhà cung cấp tài chính cho doanh nghiệp đảm bảo rằng họ sẽ nhận được lợi tức đầu tư. Quan điểm này nhấn mạnh đến các nhà cung cấp tài chính và không nhận ra mối quan hệ giữa các bên liên quan và các nhà quản lý của doanh nghiệp. Rộng hơn, Berle and Means (1932) và thậm chí trước đó là Smith (1776), Zingales (1998) định nghĩa QTCT là sự phân bổ quyền sở hữu, cơ cấu vốn, quản lý kế hoạch khuyến khích, tiếp quản, hội đồng quản trị, áp lực từ các nhà đầu tư tổ chức, cạnh tranh sản phẩm, cạnh tranh lao động, cơ cấu tổ chức. đều có thể được coi là các thể chế ảnh hưởng đến quá trình phân phối gần như tiền thuê.
Tương tự, Fin (2004), La Porta, Silanes và Shliefer (2000, 2002) lại xem đây như một tập hợp các cơ chế mà qua đó các nhà đầu tư bên ngoài (cổ đông) tự bảo vệ mình khỏi các nhà đầu tư bên trong (các nhà quản lý). 5 OECD (2004) đã đưa ra một định nghĩa chi tiết rằng: “Quản trị công ty là hệ thống mà qua đó các doanh nghiệp kinh doanh được chỉ đạo và kiểm soát. Cơ cấu quản trị công ty chỉ định cụ thể sự phân bổ quyền và trách nhiệm giữa những người tham gia khác nhau trong công ty, chẳng hạn như hội đồng quản trị, các nhà quản lý, cổ đông và các bên liên quan khác, đồng thời nêu rõ các quy tắc và thủ tục để thực hiện quyết định các vấn đề của công ty. Bằng cách này, nó cũng cung cấp các cấu trúc thông qua đó các mục tiêu của công ty đã được thiết lập, các phương tiện để đạt được các mục tiêu đó và giám sát việc thực hiện một cách hiệu quả”.
Ngoài ra, OECD cũng đã ban hành bộ các nguyên tắc quản trị công ty, đây là một tài liệu được dẫn chiếu rộng rãi trong lĩnh vực QTCT và được nhóm các nền kinh tế lớn G20 thông qua ứng dụng vào năm 2015. Ở Việt Nam, thuật ngữ này cũng được kế thừa từ OECD, được thể hiện qua quy chế của Bộ Tài chính ban hành vào tháng 3 năm 2007 như sau: “Quản trị công ty là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty”. Từ những phân tích trên đây, có thể nhận định các định nghĩa về QTCT là đa chiều dựa trên các định hướng, văn hóa và các điều kiện cụ thể; song song với đó thì sự khác biệt về văn hóa, hệ thống pháp luật và diễn biến lịch sử từ nước này sang nước cũng làm cho khó xác định một định nghĩa thống nhất chung về QTCT. Tựu chung lại, các nghiên cứu đều thừa nhận định nghĩa được sử dụng bởi các nguyên tắc của OECD (2004) vì định nghĩa này toàn diện và bao quát toàn bộ khuôn khổ quản trị công ty.
Do đó, quan điểm các bên liên quan được ủng hộ bởi các nguyên tắc của OECD về quản trị công ty cũng sẽ được xem xét xuyên suốt trong nghiên cứu này. Vai trò của quản trị công ty a. Vai trò đối với doanh nghiệp Quản trị trong công ty đóng vai trò then chốt trong việc duy trì và phát triển doanh nghiệp. Tuỳ theo đặc điểm, mục tiêu mà quản trị tạo ra một cấu trúc, tổ chức hợp lý, góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp, tăng hiệu quả tài chính cũng như tiết kiệm các yếu tố đầu vào để thúc đẩy lợi nhuận cho công ty (Dương Đức Tâm, 2021).
Một doanh nghiệp nếu không nhận thức rõ vai trò về quản trị đối 6 với mọi hoạt động của doanh nghiệp thì sẽ tăng nguy cơ bị thất bại trong hoạt động kinh doanh. Lịch sử đã chứng minh, nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vụ bê bối, phá sản doanh nghiệp là do khâu quản trị yếu kém. Điều đó có nghĩa là cùng với các điều kiện về con người và về vật chất kỹ thuật như nhau nhưng nếu quản trị khác nhau sẽ đem lại hiệu quả kinh tế khác nhau. Cụ thể hơn, theo Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), quản trị tốt giúp thúc đẩy hiệu quả hoạt động và giá trị của doanh nghiệp nhờ phân bổ nguồn lực hiệu quả, cải thiện chính sách cho người lao động và nâng cao chất lượng quản lý điều hành.
Hơn nữa, việc cải tiến cách thức quản trị công ty sẽ đem lại một hệ thống giải trình tốt hơn, giảm thiểu rủi ro liên quan đến các vụ gian lận hoặc các giao dịch nhằm mục đích vụ lợi của các cán bộ quản lý. Tinh thần trách nhiệm cao kết hợp với việc quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ hiệu quả có thể giúp công ty phát hiện sớm các vấn đề trước khi chúng phát sinh (Nguyễn Thành Long và Trần Minh Giang, 2018). Chất lượng quản trị công ty cũng có thể quyết định khả năng tiếp cận nguồn vốn của các công ty. Những doanh nghiệp quản trị tốt hơn thường tạo dựng được thiện cảm và niềm tin lớn hơn của công chúng vào việc công ty có khả năng sinh lời mà không xâm phạm tới quyền lợi của các cổ đông và các bên có lợi ích liên quan.
Bên cạnh đó, cũng theo Nguyễn Thành Long và Trần Minh Giang (2018), những công ty cam kết áp dụng các tiêu chuẩn cao trong quản trị thường huy động được những nguồn vốn giá rẻ khi cần nguồn tài chính cho các hoạt động của mình. Chi phí vốn phụ thuộc vào mức độ rủi ro của công ty theo đánh giá của các nhà đầu tư, nếu quyền lợi của nhà đầu tư được bảo vệ thích hợp thì chi phí vốn chủ sở hữu và chi phí vay đều giảm. Chính vì thế, việc áp dụng một hệ thống quản trị công ty hiệu quả sẽ giúp công ty giảm lãi suất và có được những khoản tín dụng có kỳ hạn dài hơn (Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thủy, 2013) Đặc biệt, nghiên cứu của Bùi Đức Giang (2023) khẳng định rằng một cơ chế quản trị tốt không chỉ giúp quản lí rủi ro từ các hoạt động kinh doanh, mà còn giúp định hình sự thành công của các thương vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp; đồng thời quản trị hiệu quả sẽ hỗ trợ công ty tuân thủ các yêu cầu về báo cáo và công bố 7 thông tin. Từ đó giúp tăng cường tính minh bạch và thúc đẩy tốc độ phát triển, cũng như tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và bền vững.
Vai trò đối với các bên liên quan của doanh nghiệp Chủ đề quản trị công ty ra đời từ vấn đề tách biệt giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp. Cho dù là doanh nghiệp niêm yết hay công ty cổ phần bình thường, thì quản trị công ty cũng hướng đến bảo vệ quyền lợi cổ đông và những người liên quan. Đối với các công ty đại chúng, số cổ đông nhỏ cũng khá nhiều, tiếng nói của họ dường như rất hạn chế, vì vậy cần có những cơ chế minh bạch để bảo vệ quyền lợi của nhóm này. Nhằm mục đích tạo ra giá trị gia tăng cho các bên liên quan, giải thích và nâng cao vai trò của hội đồng quản trị, hội đồng quản trị, ban điều hành và cổ đông (FCGI, 2001), một cơ chế quản trị công ty hợp lý được kỳ vọng sẽ giảm bớt các hoạt động thao túng có thể được thực hiện trong nội bộ công ty và tạo ra giá trị tăng thêm.
Một hệ thống quản trị công ty hiệu quả cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các xung đột trong doanh nghiệp giữa cổ đông thiểu số và cổ đông kiểm soát, giám đốc điều hành và cổ đông, giữa cổ đông và các bên liên quan; đồng thời bảo vệ nhà đầu tư khỏi những nhà quản lý xúi giục tự thỏa thuận, trộm cắp tài sản doanh nghiệp cũng như tham nhũng (Dalton và Daily, 1999). Cơ chế của hệ thống quản trị công ty là bảo vệ lợi ích của mọi chủ thể kinh tế trong đó có các chủ nợ. Nếu hệ thống quản trị của công ty không hiệu quả sẽ tạo ra cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát giữa các bên khác nhau: cổ đông, nhà quản lý và chủ nợ. Trường hợp xấu nhất là xung đột có thể dẫn tới phá sản.
Vì phá sản đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không thực hiện được mọi nghĩa vụ nên các chủ nợ sẽ trở thành bên bị ảnh hưởng trong cuộc chiến này. Hơn nữa, cuộc chiến giành quyền kiểm soát doanh nghiệp khiến ban quản lý và các cổ đông mất tập trung vào các hoạt động điều hành và đầu tư. Hậu quả của nó là công ty có thể dẫn đến tình trạng tài chính tiêu cực nhất (Gafurov Anvar, 2017). Vai trò đối với thị trường Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng QTCT tốt là điều kiện cần thiết để tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, nơi mà các công ty có khả năng cạnh tranh và thị trường tài chính hoạt động hiệu quả.
Có lẽ một trong những nghiên cứu nổi tiếng nhất trong 8 lĩnh vực này là cuộc khảo sát ý kiến của các nhà đầu tư quốc tế, do công ty McKinsey thực hiện năm 2000 và sửa đổi năm 2002. Nghiên cứu này nhấn mạnh rằng sự thành công của một công ty không chỉ là quản lý chất lượng mà còn là sự sáng tạo về hình ảnh của công ty này trên thị trường.