Chương 1. Cơ sở lý luận về quản trị chất lượng công trình của doanh nghiệp xây dựng. Thực trạng quản trị chất lượng công trình xây dựng tại Công ty cổ phần xây dựng tư vấn Sông Hồng số 9. Một số giải pháp hoàn thiện quản trị chất lượng công trình xây dựng tại Công ty cổ phần xây dựng tư vấn Sông Hồng số 9.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Doanh nghiệp xây dựng Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2020, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Tuy nhiên khái niệm doanh nghiệp này mang ý nghĩa chi phối của luật pháp trong khi doanh nghiệp trong đề án àny được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau.
Do vậy, đề án này dùng định nghĩa chung nhất: doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong nền kinh tế thị trường (Nguyễn Thành Độ & Nguyễn Ngọc Huyền, 2012). Về khái niệm doanh nghiệp xây dựng, theo Luật Xây dựng 2014 (sửa đổi, bổ sung 2020), doanh nghiệp xây dựng là tổ chức với chuyên môn, năng lực và nhân lực trong ngành xây dựng, có thể ký kết trực tiếp hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư, để nhận thầu toàn bộ một loại công việc hoặc toàn bộ công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình. Trong khi đó, nếu hiểu theo định nghĩa chung về doanh nghiệp thì doanh nghiệp xây dựng là tổ chức kinh tế hoạt động trong nền kinh tế thị trường, với chức năng và năng lực xây dựng. Công trình xây dựng dân dụng của doanh nghiệp xây dựng Theo Luật Xây dựng 2014 (sửa đổi, bổ sung 2020), Điều 10, Khoản 3, công trình xây dựng là kết quả của quá trình thi công, lắp đặt các cấu kiện xây dựng để tạo ra một công trình có chức năng sử dụng nhất định.
Các doanh nghiệp xây dựng đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các công trình xây dựng, từ khâu lập kế hoạch, thiết kế đến thi công và nghiệm thu. Phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp này rất đa dạng, bao gồm cả các dự án công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông hạ tầng và các công trình chuyên dụng khác. Việc lựa chọn loại hình công trình để đầu tư phụ thuộc vào nhiều yếu tố như năng lực, quy mô, thị trường và định hướng phát triển của từng doanh nghiệp. Theo Luật Xây dựng 2014 (sửa đổi, bổ sung 2020), Điều 3, Khoản 12: "Công trình dân dụng là công trình xây dựng bao gồm nhà ở, công trình công cộng và các công trình xây dựng khác phục vụ cho mục đích sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động khác 4 của con người." Ví dụ về công trình xây dựng dân dụng: nhà ở, chung cư, trường học, bệnh viện, nhà hát, trung tâm thương mại và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu của con người.
Mặc dù công trình xây dựng của doanh nghiệp là một khái niệm bao quát, song công trình xây dựng dân dụng lại là một phân loại cụ thể thuộc nhóm này. Công trình dân dụng tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của con người, trong khi các loại công trình khác như công nghiệp, hạ tầng có thể phục vụ cho nhiều mục đích đa dạng hơn. Sự khác biệt này thể hiện rõ nét trong yêu cầu về thiết kế, vật liệu, quy trình thi công và tiêu chuẩn nghiệm thu. Chất lượng công trình xây dựng Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 định nghĩa chất lượng sản phẩm là "tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của nó, thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những biểu hiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn" (Đỗ Thị Đông và Đặng Ngọc Sự, 2022).
Điều này có nghĩa là chất lượng của một công trình xây dựng không chỉ được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật, mà còn phải phù hợp với các yêu cầu cụ thể của khách hàng và các bên liên quan. Chất lượng không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo rằng công trình hoàn thành theo đúng thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật, mà còn phải đáp ứng được sự kỳ vọng của khách hàng về tính thẩm mỹ, an toàn, và độ bền. Trong đề án này, công trình xây dựng dân dụng được coi là một sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng và chất lượng được tiếp cận từ góc độ nhà sản xuất. Từ góc độ nhà sản xuất, công trình xây dựng dân dụng được coi là kết quả của quá trình thi công, là sản phẩm hoàn chỉnh phản ánh chất lượng công việc, năng lực kỹ thuật, và uy tín của doanh nghiệp.
Nhà sản xuất (trong trường hợp này là doanh nghiệp xây dựng) chịu trách nhiệm về mọi khía cạnh của sản phẩm, từ thiết kế, lựa chọn vật liệu, quy trình thi công, đến việc kiểm soát chất lượng trong suốt quá trình thực hiện dự án. Chất lượng của công trình xây dựng được đánh giá thông qua các chỉ tiêu, các thông số kinh tế-kỹ thuật cụ thể. Nếu công trình xây dựng thỏa mãn được các chỉ tiêu, các thông số kinh tế-kỹ thuật này thì công trình được coi là có chất lượng. Các nhóm tiêu thức phản án chất lượng của công trình xây dựng bao gồm: - Tính năng của dự án - Các tiêu chí thẩm mỹ - Tuổi thọ của công trình 5 - Tính an toàn của công trình - Tính dễ bảo dưỡng của công trình - Tính tiêu hao của công trình - Chi phí, giá cả - Mức độ gây ô nhiễm môi trường 1.
Quản trị chất lượng công trình xây dựng của doanh nghiệp xây dựng Trong phạm vi đề án này, công trình xây dựng được coi là một sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng. Vì vậy có thể hiểu: Dưới đây là đoạn viết lại theo ý hiểu: Quản lý chất lượng công trình xây dựng bao gồm tất cả các hoạt động quản lý nhằm đặt ra và tuân thủ các tiêu chuẩn, yêu cầu chất lượng, cũng như phân công rõ ràng trách nhiệm thực hiện. Các hoạt động này sử dụng các công cụ phù hợp như lập kế hoạch và kiểm soát chất lượng để đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình trong một hệ thống quản lý chất lượng nhất định, nhằm đạt hiệu quả tối đa. Những nội dung chủ yếu của quản trị chất lượng công trình xây dựng 1.
Quản trị chất lượng trong khâu thiết kế Thiết kế công trình là bước đầu tiên trong quy trình quản trị chất lượng. Mục tiêu của quản trị chất lượng trong giai đoạn thiết kế là xác định các thông số kinh tế - kỹ thuật đã được phê duyệt. Các thông số này sẽ trở thành tiêu chuẩn chất lượng mà các bộ phận chịu trách nhiệm thi công phải tuân theo. Các nhiệm vụ quản trị chất lượng trong giai đoạn thiết kế bao gồm: Thứ nhất, tổ chức sự phối hợp hiệu quả giữa các nhà thiết kế, quản lý marketing, tài chính và thiết kế.
Kết quả của giai đoạn thiết kế là việc chuyển đổi các yêu cầu cụ thể của khách hàng thành các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Vì thế, quản trị chất lượng trong giai đoạn thiết kế cần có quy định cho từng hoạt động cụ thể và cung cấp thông tin từ các bộ phận khác cho bộ phận thiết kế sản phẩm. Thứ hai, quản trị chất lượng trong giai đoạn thiết kế cần đảm bảo có các phương án khác nhau về hình dạng, cấu trúc, kích thước, v. của công trình và các tiêu chuẩn chất lượng tương ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Thứ ba, quản trị chất lượng trong giai đoạn thiết kế cần bảo đảm quy trình thử nghiệm và kiểm tra các phương án xây dựng để chọn ra phương án tối ưu. Cụ thể, cần kiểm tra các chỉ tiêu sau: 6 - Số liệu tổng hợp về văn bản thiết kế, công nghệ và chất lượng chế thử - Hệ số lỗi của công trình chế thử và chất lượng các biện pháp chỉnh sửa Thứ tư, quản trị chất lượng trong giai đoạn thiết kế cần xác định các tiêu chí chất lượng cho từng công trình cụ thể. Các tiêu chí chất lượng cần đảm bảo: - Đáp ứng yêu cầu của khách hàng - Phù hợp với khả năng thi công của doanh nghiệp - Giảm thiểu chi phí Thứ năm, quản trị chất lượng trong giai đoạn thiết kế công trình cần thực hiện phân tích và đánh giá mối liên hệ giữa các lợi ích mà các đặc điểm cơ bản của chất lượng sản phẩm mang lại với chi phí cần thiết để hoàn thành. Nhà quản lý cần nghiên cứu từng yêu cầu về tiêu chí chất lượng cụ thể và ước tính chi phí để đáp ứng các yêu cầu này.
Quản trị chất lượng trong khâu cung ứng nguyên vật liệu Mục tiêu của quản trị chất lượng trong khâu cung ứng vật liệu xây dựng là đảm bảo đáp ứng đúng chủng loại, số liệu, thời gian, địa điểm và các yêu cầu kinh tế - kỹ thuật cần thiết của vật liệu. Từ đó, quá trình thi công sẽ diễn ra suôn sẻ với chi phí tối thiểu. Các nội dung quản trị chất lượng trong quá trình cung ứng vật liệu xây dựng bao gồm: - Chọn lựa nhà cung cấp có khả năng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng vật liệu. - Thiết lập hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ và thường xuyên cập nhật, nhằm đảm bảo thông tin được truyền tải, tiếp nhận và phản hồi một cách nhanh chóng và chính xác nhất.
- Đảm bảo việc thỏa thuận về chất lượng vật liệu được thực hiện đúng quy định, bảo vệ quyền lợi của cả hai bên. - Thỏa thuận về phương pháp kiểm tra và xác minh chất lượng vật liệu, nhằm đảm bảo tính công bằng và ngăn ngừa gian lận. - Xác định và quy định rõ phương án giao nhận, đảm bảo cả hai bên hiểu rõ và thực hiện đúng các phương án, tránh những sai sót như giao hàng muộn hoặc thiếu hàng. - Xác định và đảm bảo quy định rõ các phương án xử lý khi xảy ra trục trặc, chẳng hạn như sự cố giao hàng do thời tiết hoặc các nguyên nhân khách quan khác.
7 Các chỉ tiêu cần đánh giá khi thực hiện quản trị chất lượng trong khâu cung ứng nguyên vật liệu xây dựng bao gồm: Bảng 1.