Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số 9.01) của tác giả Triệu Đình Phương, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2019 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Nhuận Kiên và TS. Chu Đức Dũng, mang tiêu đề: "Quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất lĩnh vực điện - điện tử - viễn thông Việt Nam".

Bối cảnh và tính cấp thiết của nghiên cứu xuất phát từ sự dịch chuyển căn bản trong môi trường kinh doanh: sự cạnh tranh trên thị trường hiện nay không còn diễn ra đơn thuần giữa các doanh nghiệp độc lập mà đã chuyển dịch thành sự cạnh tranh giữa các chuỗi cung ứng. Trong lĩnh vực sản xuất chế tạo, doanh nghiệp phải dành trung bình từ 50% đến 80% chi phí sản xuất để mua nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng và linh kiện từ hệ thống nhà cung ứng bên ngoài. Khoảng 50% các nguyên nhân dẫn đến triệu hồi sản phẩm (product recall) xuất phát từ các nhà cung ứng linh kiện (part supply) và các nhà sản xuất theo hợp đồng (contract manufacturing), điển hình như các sự cố của tập đoàn Toyota (2010) hay Samsung (2016).

Tại Việt Nam, ngành sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông đạt mức tăng trưởng chỉ số sản xuất công nghiệp bình quân 19,16%/năm trong giai đoạn 2012-2016, đưa Việt Nam xếp vị trí thứ 12 thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á về xuất khẩu điện tử. Tuy nhiên, theo Niên giám thống kê Hải quan 2017, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu chung, đóng góp tới 99,7% kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện, 96,4% kim ngạch máy vi tính, linh kiện điện tử và 99,3% kim ngạch máy ảnh, máy quay phim. Các doanh nghiệp nội địa Việt Nam đóng góp rất hạn chế do không đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng, chi phí sản xuất và thời gian giao hàng, dẫn đến việc không tiếp nhận được sự lan tỏa công nghệ và khó tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu.

Mục tiêu tổng quát của luận án là đo lường, đánh giá hiện trạng hoạt động thực hành quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (Supply Chain Quality Management - SCQM) tại các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam, đồng thời kiểm chứng mối quan hệ giữa các thực hành này với kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu tổng quát, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề lý luận có liên quan về quản trị chất lượng chuỗi cung ứng.
  2. Xây dựng khung phân tích, thang đo, bộ chỉ tiêu đánh giá hoạt động quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất chế tạo theo cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quốc tế và bối cảnh ở Việt Nam.
  3. Ứng dụng khung phân tích đánh giá hiện trạng hoạt động quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tại một số doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam.
  4. Kiểm chứng mối quan hệ giữa các thực hành quản trị chất lượng chuỗi cung ứng và kết quả hoạt động.

Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Cách tiếp cận đo lường/đánh giá quản trị chất lượng chuỗi cung ứng bao gồm 3 thành phần: Quản trị chất lượng nội bộ (bên trong doanh nghiệp), Quản trị chất lượng dòng ngược (phía nhà cung cấp), Quản trị chất lượng dòng xuôi (phía khách hàng) có phù hợp xét trong bối cảnh nghiên cứu tại các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam, trường hợp nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông?
  2. Hiện trạng thực hành quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam hiện nay?
  3. Liệu tăng cường các thực hành quản trị chất lượng chuỗi cung ứng có cải thiện kết quả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam?

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động thực hành quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi nội dung: Các thực hành nội bộ bên trong doanh nghiệp và các hoạt động bên ngoài tương tác với các đối tác chuỗi cung ứng (nhà cung cấp và khách hàng).
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ kiện điện, điện tử, sản xuất và lắp ráp thiết bị điện gia dụng, máy tính, thiết bị điện tử tiêu dùng, thiết bị viễn thông và mạng có nhà máy đặt tại Việt Nam, thuộc phân ngành C26 và C27 theo Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Luận án tham khảo các công trình khoa học công bố từ năm 2000 trở lại đây; sử dụng số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2015-2017; và dữ liệu khảo sát 100 doanh nghiệp sản xuất trong ngành được thực hiện từ tháng 09/2017 đến tháng 03/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và trong nước xoay quanh sự giao thoa giữa Quản trị chất lượng (QM) và Quản trị chuỗi cung ứng (SCM). Khái niệm Quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (SCQM) hình thành nhằm vượt qua giới hạn của quản trị chất lượng truyền thống vốn chỉ đóng khung trong phạm vi nội bộ tổ chức. Robinson và Malhotra (2005) định nghĩa SCQM là sự phối hợp chính thức và tích hợp các quá trình kinh doanh liên quan đến tất cả các tổ chức đối tác trong kênh cung cấp. Foster (2008) xem xét SCQM là cách tiếp cận dựa trên hệ thống để cải tiến hiệu suất qua các liên kết xuôi dòng và ngược dòng, bao gồm 7 chủ đề: tập trung vào khách hàng, thực hành chất lượng, quan hệ với nhà cung cấp, lãnh đạo, quản trị nguồn nhân lực, kết quả kinh doanh và an toàn. Kuei và Madu (2001, 2008) chỉ ra 11 cấu trúc đo lường và nhấn mạnh vai trò của niềm tin giữa người mua và nhà cung cấp. Flynn và Flynn (2005) xác định mối liên kết cộng hưởng giữa QM và SCM tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Tác giả (Năm) Mẫu nghiên cứu Phương pháp Phát hiện chính
Kuei, Madu và Lin (2001) 81 tập đoàn tại Đài Loan Phân tích độ tin cậy, phân tích cụm, phân biệt SCQM cải thiện kết quả hoạt động; có sự khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp theo định hướng chất lượng.
Fynes, Voss và Burca (2005) 200 nhà sản xuất điện tử tại Ireland Phân tích nhân tố khẳng định, phân tích đường dẫn Chất lượng quan hệ chuỗi tác động tích cực đến chất lượng thiết kế nhưng không tác động trực tiếp đến chất lượng phù hợp.
Sila, Ebrahimpour và Birkholz (2006) 89 nhà sản xuất tại Hoa Kỳ Kiểm định t một phía và hai phía SCQM giúp nâng cao chất lượng sản phẩm; khuyến nghị sự tham gia của đối tác vào thông số chất lượng.
Kaynak và Hartley (2008) 359 doanh nghiệp sản xuất tại Hoa Kỳ Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) Thực hành chất lượng, tập trung vào khách hàng và quản trị chất lượng nhà cung cấp cải thiện chất lượng thông qua tích hợp.
Zeng, Phan và Matsui (2013) 238 nhà sản xuất máy móc, điện tử, vận tải tại 8 nước Phân tích SEM (phần mềm AMOS) Quản trị chất lượng nội bộ tác động tích cực tới dòng ngược, dòng xuôi, chất lượng phù hợp và sự hài lòng của khách hàng.
Soares, Soltani và Liao (2017) 325 công ty sản xuất tại Anh Phân tích nhân tố, hồi quy đa biến Thực hành SCQM tác động tích cực đến kết quả chất lượng, trong đó tập trung vào khách hàng có ảnh hưởng lớn nhất.
Hong, Zhang và Shi (2018) 157 công ty sản xuất vùng đồng bằng Trường Giang, Trung Quốc Phân tích SEM Thực hành SCQM tác động tích cực tới kết quả hoạt động thông qua biến trung gian chuyển giao tri thức.
Hằng và cộng sự (2015) 282 công ty tại Việt Nam (nhiều ngành nghề) Cronbach's Alpha, EFA, CFA, phân tích tương quan SCQM gồm 4 nhóm (dòng ngược, nội bộ, dòng xuôi, hỗ trợ) tác động tích cực tới sự hài lòng, tài chính, hoạt động trừ chất lượng thông tin.

Các nghiên cứu khác mở rộng phương diện kỹ thuật như: Beamon và cộng sự (1998, 1999) nghiên cứu chất lượng quá trình; Romano và Vinelli (2001) nghiên cứu mạng lưới cung ứng công ty Marzotto (Ý); Yang và cộng sự nghiên cứu tích hợp SCM và Six Sigma tại Samsung; Ramudhin và cộng sự (2008) tích hợp chi phí chất lượng (COQ) vào thiết kế mạng lưới; Carmignani (2009) điều chỉnh ISO 9001:2000 cho chuỗi cung ứng; Braglia và Petroni (2000) dùng phân tích đường bao dữ liệu (DEA) để chọn nhà cung cấp.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu chuỗi cung ứng trước đây chủ yếu tập trung vào chuỗi giá trị nông sản, thủy sản, dệt may (Đào Tuấn Anh và Thái Văn Tình; Lê Khả Tuấn; Trịnh Đức Trí; Nguyễn Hữu Tâm và Lưu Thanh Đức Hải; Nguyễn Viết Tuân; Mai Văn Xuân và Lê Văn Thu; Hà Văn Hội; Đinh Lan Phương), nghiên cứu áp dụng ISO 9000 tại Thừa Thiên Huế, hoặc các khía cạnh logistics (chi phí logistics, chuỗi cung ứng lạnh, phương pháp AHP). Về SCQM, nghiên cứu duy nhất được công bố trước thời điểm luận án là của Hằng và cộng sự (2015) khảo sát 282 doanh nghiệp đa ngành. Từ đó, tác giả chỉ ra 4 khoảng trống nghiên cứu chính:

  • Khoảng trống 1: Thiếu nghiên cứu tích hợp hệ thống quản trị chất lượng và quản trị chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả vận hành.
  • Khoảng trống 2: Chưa có sự thống nhất về cấu trúc đo lường và đánh giá các hoạt động thực hành SCQM phù hợp với bối cảnh thực tế của doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam.
  • Khoảng trống 3: Thiếu các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa thực hành SCQM và kết quả hoạt động tại các nước đang phát triển như Việt Nam.
  • Khoảng trống 4: Thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu về mô hình và hoạt động thực hành SCQM đứng từ góc độ quản trị doanh nghiệp trong ngành sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án kế thừa cách tiếp cận của Govil và Proth (2002), định nghĩa chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ chức hợp tác để cải thiện dòng chảy nguyên vật liệu và thông tin giữa nhà cung cấp và khách hàng ở mức chi phí thấp nhất và tốc độ cao nhất nhằm thỏa mãn khách hàng. Về quản trị chất lượng, tác giả tiếp cận theo ISO (2015) và Evans và Lindsay (2008), xác định chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật, đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi của khách hàng. Trên cơ sở tổng hợp mô hình của Robinson và Malhotra (2005), Foster (2008) và Zeng và cộng sự (2013), khung phân tích của luận án cấu trúc hoạt động SCQM thành 3 thành phần chính:

  1. Quản trị chất lượng nội bộ (Internal Quality Management - IQM): Bao gồm các thực hành chất lượng cốt lõi và thực hành cơ sở hạ tầng, cụ thể là sự hỗ trợ của lãnh đạo, lập kế hoạch chiến lược chất lượng, quản trị quá trình, dữ liệu và báo cáo chất lượng, thông tin phản hồi, thiết kế chất lượng, giải quyết vấn đề, cải tiến liên tục, đào tạo chất lượng, phần thưởng.
  2. Quản trị chất lượng dòng ngược (Upstream Quality Management - UQM): Tương tác với nhà cung cấp, gồm quản trị chất lượng nhà cung cấp, liên kết công nghệ với nhà cung cấp, chia sẻ thông tin với nhà cung cấp, sự tham gia của nhà cung cấp trong thiết kế sản phẩm, sự tham gia của nhà cung cấp trong cải tiến chất lượng, quan hệ đối tác chiến lược với nhà cung cấp.
  3. Quản trị chất lượng dòng xuôi (Downstream Quality Management - DQM): Tương tác với khách hàng, gồm quản trị quan hệ khách hàng, liên kết công nghệ với khách hàng, chia sẻ thông tin với khách hàng, sự tham gia của khách hàng trong thiết kế sản phẩm, sự tham gia của khách hàng trong cải tiến chất lượng.
  4. Kết quả hoạt động (Performance): Đo lường trên 3 khía cạnh cụ thể gồm hiệu suất chất lượng (quality performance), chi phí (cost) và thời gian giao hàng (delivery time).

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng:

  • Nghiên cứu tại bàn: Hệ thống hóa tài liệu học thuật từ sách chuyên khảo, bài báo quốc tế thuộc danh mục ISI, Scopus từ năm 2000 nhằm xác lập cơ sở lý thuyết, thang đo và giả thuyết nghiên cứu.
  • Nghiên cứu định tính: Tiến hành tham vấn chuyên gia (thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu) với các chuyên gia chất lượng, chuỗi cung ứng và các nhà quản trị chức năng (mua hàng, sản xuất, kho vận, bán hàng) để hoàn thiện nội dung bảng hỏi khảo sát. Đồng thời, áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) phân tích chuỗi cung ứng và hệ thống SCQM tại Công ty Cổ phần K.P Việt Nam.
  • Nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu thông qua phiếu khảo sát sử dụng thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu được thu thập từ mẫu gồm 100 doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông Việt Nam (thuộc mã ngành C26 và C27), thực hiện dưới sự phối hợp của Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê (Tổng cục Thống kê) từ tháng 09/2017 đến tháng 03/2018.

Kỹ thuật phân tích dữ liệu bao gồm: thống kê mô tả; kiểm định độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha; phân tích hệ số tương quan Pearson giữa các thành phần thực hành SCQM và các tiêu chí kết quả hoạt động; phân tích hồi quy đơn và hồi quy bội để kiểm định các giả thuyết về tác động của IQM, UQM, DQM tới kết quả hoạt động; và phân tích mối quan hệ cấp bậc giữa các nhóm thực hành SCQM.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 tập trung phân tích tiến trình phát triển của các công trình học thuật về quản trị chuỗi cung ứng và quản trị chất lượng trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng SCM phát triển qua 3 giai đoạn chính từ thập niên 1970 đến nay, chuyển dần từ việc giải quyết bài toán hàng tồn kho sang tích hợp các thực hành chất lượng và ứng dụng công nghệ thông tin. Luận án tổng hợp chi tiết các nghiên cứu về khái niệm, nội hàm và cấu phần SCQM của các học giả như Kuei và Madu, Robinson và Malhotra, Foster, Kaynak và Hartley, Zeng và cộng sự. Chương này phân tích chi tiết tình hình nghiên cứu tại Việt Nam, đánh giá kết quả từ nghiên cứu của Hằng và cộng sự (2015), từ đó xác lập 4 khoảng trống nghiên cứu và xây dựng 3 câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị chất lượng chuỗi cung ứng

Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng về chuỗi cung ứng, cấu trúc 5 thành viên trong chuỗi (nhà sản xuất, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ, khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ) và các dòng lưu chuyển cơ bản (sản phẩm, thông tin, tài chính). Chương này phân tích các thực hành SCM then chốt theo Li và cộng sự (2006) gồm quan hệ đối tác với nhà cung cấp, quan hệ khách hàng, mức độ và chất lượng chia sẻ thông tin, sự trì hoãn (postponement). Đồng thời, tác giả hệ thống hóa các giai đoạn phát triển của quản trị chất lượng từ kiểm tra chất lượng, kiểm soát chất lượng bằng thống kê (SPC), kiểm soát chất lượng toàn công ty (TQC), Six Sigma đến quản trị chất lượng toàn diện (TQM) và tiêu chuẩn ISO 9000. Trên cơ sở phân loại của Flynn và cộng sự, chương 2 phân định rõ các thực hành cốt lõi và thực hành cơ sở hạ tầng, xác định bản chất tích hợp của SCQM và thiết lập hệ thống đo lường kết quả hoạt động dựa trên 3 trụ cột: chất lượng, chi phí và thời gian giao hàng.

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết khung phân tích đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hoạt động SCQM với kết quả hoạt động, cũng như mối quan hệ cấp bậc giữa các thực hành. Tác giả cụ thể hóa hệ thống thang đo thông qua bảng hỏi gồm:

  • Thang đo Quản trị chất lượng nội bộ (Bảng 3 đến Bảng 12 trong luận án): đo lường 10 biến tiềm ẩn gồm sự hỗ trợ của lãnh đạo, lập kế hoạch chiến lược chất lượng, quản trị quá trình, dữ liệu báo cáo chất lượng, thông tin phản hồi, thiết kế chất lượng, giải quyết vấn đề, cải tiến liên tục, đào tạo chất lượng, phần thưởng.
  • Thang đo Quản trị chất lượng dòng ngược (Bảng 13 đến Bảng 18): đo lường 6 biến tiềm ẩn liên quan đến quan hệ và quản lý nhà cung cấp.
  • Thang đo Quản trị chất lượng dòng xuôi (Bảng 19 đến Bảng 23): đo lường 5 biến tiềm ẩn liên quan đến quan hệ và tương tác với khách hàng.
  • Thang đo Kết quả hoạt động (Bảng 24 đến Bảng 26): đo lường hiệu suất chất lượng, chi phí sản xuất và thời gian giao hàng. Chương này cũng mô tả phương án chọn mẫu khảo sát gồm 100 doanh nghiệp ngành C26 và C27, quy trình khảo sát thực tế phối hợp với Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê, cùng các quy trình kiểm định thang đo và kỹ thuật phân tích thống kê hồi quy.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và hàm ý

Chương 4 mở đầu bằng việc phân tích hiện trạng ngành sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông Việt Nam: mạng lưới sản xuất toàn cầu, tỷ trọng áp đảo của khối FDI và điểm nghẽn năng lực của các doanh nghiệp nội địa. Tiếp theo, tác giả trình bày kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (100 doanh nghiệp) và kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha (Bảng 31 đến Bảng 34), chứng minh các thang đo đạt độ tin cậy khoa học. Luận án đánh giá chi tiết mức độ triển khai các thực hành SCQM tại các doanh nghiệp qua Bảng 35, 36, 37 và 38.

Nhằm minh họa thực tiễn sâu sắc, luận án phân tích tình huống tại Công ty Cổ phần K. (doanh nghiệp sản xuất trong ngành), làm rõ chuỗi cung ứng, hệ thống SCQM, các tiêu chí đánh giá năng lực nhà cung cấp (Bảng 39) và thống kê khiếu nại khách hàng (Bảng 40). Luận án trình bày kết quả phân tích tương quan Pearson (Bảng 41, 42, 43), kết quả phân tích hồi quy đơn (Bảng 44) và hồi quy bội (Bảng 45) nhằm kiểm định tác động của IQM, UQM, DQM tới kết quả hoạt động, đồng thời kiểm định mối quan hệ cấp bậc giữa các thực hành (Bảng 46). Kết thúc chương là phần thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất các hàm ý quản trị cho doanh nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý thuyết:

  • Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết, quan điểm và mô hình quản trị chất lượng chuỗi cung ứng được công bố trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI, Scopus từ năm 2000.
  • Xây dựng và kiểm chứng thực nghiệm khung phân tích đo lường hoạt động SCQM trong bối cảnh các doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại một quốc gia đang phát triển (Việt Nam), cấu trúc thành 3 thành phần rõ ràng: quản trị chất lượng nội bộ (IQM), quản trị chất lượng dòng ngược (UQM) và quản trị chất lượng dòng xuôi (DQM).
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định tác động tích cực của các thực hành SCQM tới kết quả hoạt động doanh nghiệp trên cả 3 khía cạnh: hiệu suất chất lượng, tối ưu hóa chi phí và rút ngắn thời gian giao hàng; đồng thời làm rõ mối quan hệ cấp bậc giữa các nhóm thực hành.

Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  • Cung cấp bức tranh dữ liệu cụ thể, phản ánh thực trạng áp dụng các thực hành SCQM tại 100 doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông Việt Nam, chỉ rõ các điểm hạn chế trong kết nối công nghệ và chia sẻ thông tin với đối tác.
  • Đề xuất lộ trình xây dựng và phát triển hệ thống SCQM theo trình tự cấp bậc: doanh nghiệp cần bắt đầu từ việc nâng cao năng lực quản trị chất lượng nội bộ (IQM) làm nền tảng cốt lõi, tiếp đó triển khai tích hợp chất lượng với nhà cung cấp (UQM), và mở rộng thiết lập quan hệ hợp tác gắn kết với khách hàng (DQM).
  • Đưa ra các gợi ý thực hành cụ thể: đẩy mạnh ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin (như trao đổi dữ liệu điện tử EDI, hoạch định nguồn lực ERP) trong giao dịch chuỗi cung ứng; mở rộng phạm vi và nâng cao độ tin cậy của thông tin chia sẻ; tạo cơ chế để nhà cung cấp và khách hàng tham gia ngay từ giai đoạn đầu của quá trình thiết kế sản phẩm và cải tiến chất lượng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Quy mô mẫu nghiên cứu dừng lại ở 100 doanh nghiệp, tập trung vào hai phân ngành sản xuất thiết bị điện, điện tử, viễn thông (C26 và C27), chưa mở rộng sang toàn bộ các ngành công nghiệp chế tạo khác.
  • Dữ liệu khảo sát cắt ngang thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 09/2017 đến tháng 03/2018, chưa phản ánh được sự biến động của các thực hành chất lượng theo chuỗi thời gian dài hạn.
  • Phạm vi xem xét chuỗi cung ứng chủ yếu tập trung vào các mối quan hệ trực tiếp cấp 1 (nhà cung cấp trực tiếp tầng 1 và khách hàng trực tiếp), chưa khảo sát sâu đa tầng đối với các nhà cung cấp cấp 2, cấp 3 trong mạng lưới cung ứng phức tạp.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi và quy mô mẫu khảo sát sang các ngành công nghiệp chế tạo khác tại Việt Nam như cơ khí chế tạo, ô tô, dệt may, da giày để kiểm chứng tính phổ quát của mô hình.
  • Ứng dụng các phương pháp mô hình hóa cấu trúc tuyến tính nâng cao (Structural Equation Modeling - SEM) với sự hỗ trợ của phần mềm AMOS hoặc SmartPLS để đánh giá sâu hơn các tác động gián tiếp, vai trò của các biến trung gian hoặc biến điều tiết.
  • Nghiên cứu sâu hơn về quản trị chất lượng chuỗi cung ứng đa tầng và đánh giá tác động của công nghệ số, chuyển đổi số đối với hoạt động liên kết chuỗi cung ứng.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý chuỗi cung ứng và Quản lý tác nghiệp: Luận án cung cấp tổng quan tài liệu có hệ thống, bộ thang đo chuẩn hóa về SCQM đã được kiểm định độ tin cậy tại Việt Nam, và phương pháp kết hợp giữa khảo sát định lượng với nghiên cứu tình huống doanh nghiệp thực tế.
  • Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất (đặc biệt trong lĩnh vực điện, điện tử và công nghiệp hỗ trợ): Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp về cách thức thiết lập tiêu chuẩn đánh giá nhà cung cấp, lộ trình phát triển hệ thống chất lượng từ nội bộ ra liên tổ chức, và giải pháp gắn kết khách hàng vào quy trình cải tiến sản phẩm.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách công nghiệp: Các phân tích về thực trạng ngành điện tử Việt Nam và khoảng cách giữa doanh nghiệp nội địa với khối FDI cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khung phân tích quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (SCQM) trong luận án bao gồm những thành phần cụ thể nào? Khung phân tích của luận án được cấu trúc gồm 3 thành phần chính: Quản trị chất lượng nội bộ (IQM - gồm 10 nhóm thực hành cốt lõi và hạ tầng), Quản trị chất lượng dòng ngược (UQM - gồm 6 nhóm thực hành tương tác với nhà cung cấp) và Quản trị chất lượng dòng xuôi (DQM - gồm 5 nhóm thực hành tương tác với khách hàng). Ba thành phần này cùng tác động đến Kết quả hoạt động của tổ chức.

  2. Luận án đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp dựa trên những khía cạnh nào? Kết quả hoạt động của doanh nghiệp được tác giả lượng hóa qua 3 khía cạnh cụ thể: Hiệu suất chất lượng (quality performance), Chi phí (cost) và Thời gian giao hàng (delivery time).

  3. Dữ liệu khảo sát định lượng trong luận án được thu thập từ đâu và quy mô mẫu là bao nhiêu? Dữ liệu định lượng được thu thập từ 100 doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông tại Việt Nam (thuộc mã ngành C26 và C27), do tác giả phối hợp cùng Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê (Tổng cục Thống kê) thực hiện khảo sát từ tháng 09/2017 đến tháng 03/2018.

  4. Nghiên cứu tình huống điển hình được tác giả thực hiện tại đơn vị nào? Tác giả thực hiện nghiên cứu trường hợp điển hình tại Công ty Cổ phần K. (K.P Việt Nam) để phân tích chi tiết cấu trúc chuỗi cung ứng, hệ thống thực hành SCQM, tiêu chí đánh giá nhà cung cấp và dữ liệu khiếu nại của khách hàng trong môi trường vận hành thực tế.

  5. Luận án khuyến nghị lộ trình phát triển hệ thống SCQM theo trình tự nào? Luận án khuyến nghị lộ trình phát triển cấp bậc: trước tiên doanh nghiệp phải tập trung củng cố năng lực chất lượng nội bộ (IQM), sau đó mở rộng sang tích hợp quản trị chất lượng với nhà cung cấp (UQM), và cuối cùng là thiết lập quan hệ hợp tác sâu rộng với khách hàng (DQM).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Triệu Đình Phương đã giải quyết một vấn đề cấp thiết của ngành sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông Việt Nam trong bối cảnh hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu tại bàn, phỏng vấn chuyên gia, nghiên cứu tình huống điển hình và khảo sát định lượng 100 doanh nghiệp, công trình đã kiểm chứng thành công khung phân tích SCQM 3 thành phần (IQM, UQM, DQM) và khẳng định tác động tích cực của các thực hành này tới chất lượng, chi phí và thời gian giao hàng. Các phát hiện và khuyến nghị của luận án cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn hữu ích cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại Việt Nam.