phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục những công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án, nội dung luận án gồm 4 chương 11 tiết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI: QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC HỌC TRONG CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Loại công trình và tư liệu liên quan đến bối cảnh và những tiền đề tư tưởng cho sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh và nội dung của triết học hiện sinh Cuốn Hiện tượng luận về hiện sinh, [88] của tác giả Lê Thành Trị (1974), đã dành phần lớn dung lượng cho việc phân tích ý nghĩa tổng quát của triết lý hiện sinh gồm năm điểm cơ bản: 1) phê phán gay gắt chủ nghĩa duy lý dưới nhiều hình thức; 2) phê phán các quan điểm nhìn con người như một đồ vật và ứng xử với con người như một công cụ; 3) đề cao chân lý chủ thể; 4) nhìn nhận và khai thác khía cạnh nội tại của con người, tự do chọn lựa, sự đối lập giữa thiện và ác, giữa cố gắng và buông trôi…; 5) nhấn mạnh khả năng của con người sẵn sàng đương đầu với thử thách của cuộc sống. Từ năm điểm này, tác giả đi đến kết luận: Triết học hiện sinh chính là hiện tượng luận áp dụng cho việc tìm hiểu con người.
Sau đó, tác giả phân tích những luận đề triết học của từng triết gia hiện sinh như Kierkegaard, Nietzsche, Jaspers, Heidegger, Sartre. Chủ nghĩa hiện sinh còn được giới thiệu trong cuốn Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại, [30] của Nguyễn Hào Hải (2001). Trong cuốn sách này, tác giả giới thiệu nguồn gốc và cơ sở về phương diện bản thể luận và nhận thức luận trong hiện tượng luận Husserl như là một trong những tiền đề cho sự ra đời của triết học hiện sinh, kết hợp với sự phân tích khá chi tiết hoàn cảnh ra đời chủ nghĩa hiện sinh, cuốn sách đã dựng lại bức tranh khá sinh động về sự kết hợp lý luận giữa hai trào lưu triết học phương Tây có tầm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ảnh hưởng rất to lớn giữa hiện tượng luận và chủ nghĩa hiện sinh trong nhiều thập kỷ của thế kỷ XX ở phương Tây. Tác giả khẳng định “hai cuộc đại chiến khốc liệt là hoàn cảnh quyết định để hình thành và phát triển mạnh mẽ chủ nghĩa hiện sinh, nhưng không thể nói đơn giản rằng: chính hai cuộc đại chiến này đã sinh ra triết học hiện sinh” [30, tr.
Ông cũng chỉ ra nguyên nhân khác bao quát hơn là: những sự bất công giữa những con người sống trong những xã hội dựa trên bóc lột, và biểu hiện rõ nhất trong xã hội tư bản” [30, tr. Tác giả đã dành một dung lượng đáng kể phân tích vấn đề con người trong triết học hiện sinh, trong đó nổi bật là luận đề tồn tại có trước bản chất và thân phận con người theo quan điểm của Jaspers, Heidegger, Camus và Sartre. Cuối cùng, tác giả đưa ra kết luận rằng, luận đề tồn tại có trước bản chất có ý nghĩa đối với sự phê phán các thuyết “hữu thần luận”, “nhân tính luận”. Tuy nhiên, hạn chế của chủ nghĩa hiện sinh theo tác giả là “nhấn mạnh, khuyếch trương phóng đại tính co dãn, tính năng động về bản chất của con người, làm cho nó thoát ly hẳn cơ sở vật chất, hoàn cảnh khách quan, tính tất nhiên khách quan” [30, tr.
Tác giả Lưu Căn Báo (2003) đã viết về quãng đời của Nietzsche khi ông còn là một cậu học trò bé bỏng, cô đơn và đau buồn nhưng có tài năng xuất chúng trong cuốn sách Ph. Ở đây, tác giả cũng đã kể về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Nietzsche và Schopenhauer: “Lúc ấy tôi đang lẻ loi chịu đựng một số thể nghiệm đau khổ, rất thất vọng, không có nguyên tắc, không có hi vọng. Từ sáng đến tối, tôi u uất âm thầm suy nghĩ. Chính trong tâm trạng ấy, tôi phát hiện ra Schopenhauer, tri âm của tâm hồn tôi” [4, tr.
Sau đó tác giả đề cập đến nội dung cơ bản của một số tác phẩm của Nietzsche như: Phía bên kia của cái thiện và cái ác, Zarathoustra đã nói như thế. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi giới thiệu về các trào lưu tư tưởng của triết học phương Tây hiện đại, cuốn Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI - Triết học phương Tây hiện đại [24] của tác giả Lưu Phóng Đồng (2004) đã khái quát về chủ nghĩa hiện sinh như một trường phái triết học xuất phát từ việc biểu thị ý nghĩa tồn tại thật sự của con người tiến tới vạch ra mối quan hệ giữa cá nhân, tha nhân và thế giới. Tác giả đề cập tới sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh gắn với các mâu thuẫn xã hội và cuộc khủng hoảng của chế độ tư bản chủ nghĩa và hiện tượng tha hóa trong xã hội; đồng thời chỉ ra thực chất của chủ nghĩa hiện sinh. Ông viết: “Miêu tả vạch ra sự đánh mất cá tính con người, sự tước đoạt tự do của con người, sự chi phối của các lực lượng phi nhân trong xã hội hiện đại đầy rẫy mâu thuẫn và khủng hoảng; luận chứng làm thế nào để con người được tự do thực sự, thoát khỏi tình trạng tha hóa, khôi phục cá tính và sự tôn nghiêm của con người, lực lượng được các triết gia hiện sinh coi là vấn đề trung tâm của triết học” [24, tr.
Sau đó, tác giả phân tích tư tưởng của các nhà triết học hiện sinh như M. Cuốn Triết học hiện sinh [22] của Trần Thái Đỉnh (2005) cũng đã giới thiệu khái quát về những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời và những nội dung cơ bản của triết học hiện sinh. Tác giả cho rằng: “triết học hiện sinh là triết học về ý nghĩa cuộc sống nhân sinh, nói tắt là triết học về con người” [22, tr. Tác giả phân tích một số tư tưởng chủ yếu của các nhà triết học hiện sinh, trong đó khẳng định, triết học hiện sinh là triết học dạy ta suy nghĩ về thân phận làm người và đề tài quan trọng nhất của triết học hiện sinh là con người tại thế với những điều kiện sinh hoạt nhất định và “định mệnh” độc đáo của mỗi người.
Chủ thể tính và nhân vị tự do là hai phương diện chính làm nên con người hiện sinh. Khảo sát về lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, tác giả lần lượt chỉ ra khuynh hướng khác nhau của mỗi triết gia đã góp công tạo lập nền tảng và sự đa diện mạo của chủ nghĩa hiện sinh: Kiergaard, ông tổ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện sinh đích thực; Nietzsche, ông tổ hiện sinh vô thần; Husserl, ông tổ văn chương triết lý hiện tượng học; Jaspers, người khởi xướng hiện sinh hướng về siêu việt; Marcel, người chủ trương hiện sinh và huyền nhiệm; Heidegger, người đặt nền tảng cho hiện sinh và hiện hữu; Sartre, người đề cao hiện sinh và hư vô. Trong cuốn Lịch sử triết học Phương Tây hiện đại [17], hai tác giả Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng (2005) đã khảo sát chủ nghĩa hiện sinh ở châu Âu và ở Mỹ. Các tác giả đề cập đến nhiều chủ đề cùng một số khái niệm đặc trưng của chủ nghĩa hiện sinh, trong đó chủ đề về bản chất con người, về tự do, về cái chết và về sự lo âu… được phân tích khái quát trên những nét chung nhất.
Các tác giả đã khẳng định rằng, bản thể luận của chủ nghĩa hiện sinh lấy con người làm đối tượng, nhưng không phải con người phổ quát, chung chung, trừu tượng như trong triết học truyền thống, mà là con người cá nhân độc nhất vô nhị lấy hiện sinh, mặt cơ bản của hiện hữu để làm nhân vị cho mình, rằng “hiện sinh chỉ có ở con người chứ không có ở bất cứ sự vật nào. Con người không có bản tính, không có sứ mạng phải làm vì ai. Con người tự sáng tạo bản chất của mình” [17, tr. Trong cuốn Tuyển tập danh tác triết học từ Platon đến Derrida [3], tác giả Forrest E.
Baird (2006) đã đề cập đến cội nguồn của triết học hiện sinh với các luận điểm tiêu biểu như quan niệm về chủ thể tính: “tôi không thể thay đổi sự kiện rằng cái cây này đang ở trước mặt tôi hay tôi không thể đi xuyên qua nó. Nhưng cả ở đây, tự do của tôi vẫn thắng. Tôi tự tạo ra ý nghĩa của cái cây này như một vật để trèo lên hay như một nguồn gỗ hay như một vật phải giữ gìn hay như một mẫu sinh vật” [3, tr. Tác giả cũng đưa ra quan niệm về trách nhiệm của chủ nghĩa hiện sinh là con người phải chịu trách nhiệm về chính mình, về mọi người: “.
khi chúng ta nói rằng một 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người chịu trách nhiệm về chính mình, chúng ta không chỉ muốn nói người ấy chịu trách nhiệm về cá nhân họ, mà về mọi người” [3, tr. Trong cuốn Diện mạo triết học phương Tây hiện đại [46] của tác giả Đỗ Minh Hợp (2006), phần viết về chủ nghĩa hiện sinh, tác giả đã khẳng định rằng, tuy có nhiều đại biểu không hoàn toàn đồng nhất, nhưng các nhà hiện sinh đều thống nhất ở điểm coi con người là một thực thể đặc biệt hay là một loại đặc biệt của cái hiện tồn là không thể so sánh, là hoàn toàn khác biệt với tất cả các sinh vật và sự vật khác. “Lựa chọn là một bộ phận cấu thành quan trọng bậc nhất của tồn tại người, là một trong các phạm trù phản ánh đặc điểm của tồn tại người” [46, tr. Tác giả cũng lưu ý: trong hệ thuật ngữ của chủ nghĩa hiện sinh “lo âu, quan tâm hay gánh nặng không phải là các phạm trù xã hội, mà là các phạm trù hiện sinh” [46, tr.
Cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX [47] của các tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh (2008) đã đưa ra cái nhìn tổng quan về các nhà sáng lập ra chủ nghĩa hiện sinh và tư tưởng cơ bản của các triết gia hiện sinh thông qua việc phân tích một số tác phẩm tiêu biểu nhất của các nhà hiện sinh chủ nghĩa, chẳng hạn, tác phẩm Tồn tại và thời gian của M.Heidegger; các tác phẩm Buồn nôn và Chủ nghĩa hiện sinh – đó là chủ nghĩa nhân đạo của J.Sartre và tác phẩm Thần thoại về Sidip hay Kẻ xa lạ của Camus. Cuốn sách này cũng phân biệt các khái niệm “hiện sinh không đích thực” “hiện sinh đích thực”.