phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm ba chương 8 tiết.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay Chương1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA C. MÁC VỀ THA HOÁ 1. Cơ sở lý luận của quan niệm về tha hoá của C. Quan niệm trước C.
Mác về tha hoá Mác không phải là người đầu tiên trong lịch sử triết học nghiên cứu về vấn đề tha hoá, vì vậy quan niệm của ông về tha hoá phần nào cũng là sự kế thừa tư tưởng của những người đi trước. Dựa theo cuốn “Từ điển triết học” ( Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1986) thì nguồn gốc tư tưởng về tha hoá có thể tìm thấy ở những đại diện của phong trào Khai sáng Pháp (Rútxô) và Đức (Gơtơ, Sinlơ). “Về mặt khách quan, tư tưởng đó biểu hiện sự phản kháng tính chất phản nhân văn của các quan hệ tư hữu” [142, tr. Về sau vấn đề tha hoá đã được nghiên cứu trong triết học của Hêghen và Phoiơbắc, có thể coi chúng là cơ sở lý luận trực tiếp của quan niệm của Mác về tha hoá.
* Quan niệm của G. Hêghen về tha hoá. Phạm trù “tha hoá” được bắt đầu hình thành trên nền hệ vấn đề chính trị - xã hội về sở hữu và nhà nước trong các tác phẩm của các nhà triết học duy vật Pháp thế kỷ XVII - XVIII, trong các suy tư của các nhà lý luận khi bàn về “Khế ước xã hội”. Đấu tranh giai cấp ở thời kỳ cách mạng tư sản thế kỷ XVII (ở Anh) và trước cách mạng tư sản Pháp thế kỷ XVIII đã kích thích các nhà triết học xây dựng khái niệm “tha hoá”.
Khi khái niệm “tha hoá” bắt đầu được hình thành trong chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức như là phạm trù triết học, thì trước đó đã có những quan niệm về tha hoá kinh tế - xã hội do các nhà triết học Pháp thế kỷ XVIII nêu ra trong sự phê phán các quan hệ phong kiến. Nói riêng, trong số các nhà triết học Đức, Phíchtơ là người đầu tiên dùng khái niệm “tha hoá”. Nhờ khái niệm 12 (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay đó Phichtơ đã diễn đạt sự kiện sinh ra “không phải Tôi”, xa lạ và đối lập với “Tôi”, nhưng lại được tạo lập bởi chính “Tôi”. Ở Phíchtơ và những người kế tục gần gũi với đường hướng triết học của ông, tha hoá biểu thị bước chuyển của tinh thần vào trạng thái vật chất xa lạ với nó và sự sắp đặt bởi tồn tại khác đó của tinh thần thành những gông cùm cho chính nó.
Nội dung kinh tế - xã hội của “tha hoá” lúc đó còn bị thần bí hoá và che đậy. Thông qua tính đa ngữ nghĩa của từ Fremd - xa lạ và xa cách (tức là bị mất tình chí cốt, thậm chí thành thù địch), Phíchtơ đi đến một kết cấu tha hóa khác so với ở Rútxô, mà Hêghen là người tiếp tục phát triển. Có thể nói rằng, những kết quả mà Hêghen đạt được là đỉnh cao nhất trong số các nghiên cứu triết học đã được tiến hành trong lịch sử triết học trước Mác. “Tha hoá” là một trong những phạm trù vừa mang tính hệ thống, vừa mang tính năng động quan trọng nhất của triết học Hêghen.
Nó mang tính hệ thống theo nghĩa là chiếm cứ một vị trí xác định trong hệ thứ bậc các phạm trù của triết học Hêghen, nó xuất hiện không phải một lần mà ở tất cả các tác phẩm trong đó Hêghen trình bày triết học Tinh thần. Còn nó mang tính năng động theo nghĩa thâm nhập vào toàn bộ hệ thống của ông như là một trong những “đòn bảy phương pháp luận” để xây dựng hệ thống. Thuật ngữ “tha hoá” (entfremdung), chưa được Hêghen dùng trước khi viết “Hiện tượng học tinh thần”, tuy nhiên trong các tác phẩm trước đó, ông cũng đã có những ý tưởng về khái niệm này. Trong bài viết về “Tình yêu” (Liebe), ông xem Tình yêu (Sau này là “sự sống” và trong “Hiện tượng học tinh thần” là „tinh thần”) là tiến trình từ sự thống nhất sơ khai, ấu trĩ trải qua sự đối lập đến sự tái hợp nhất tối hậu.
“Tình yêu” khôi phục sự thống nhất giữa những cá nhân, giữa cá nhân và thế giới nhưng không hoàn toàn thủ tiêu cá nhân.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay Sau đó, trong bài viết về đạo Kytô, ông xem sự xung đột bên trong con người giữa “tình cảm” và “trí tuệ” là giai đoạn tất yếu của sự phát triển tinh thần, nhưng cho rằng chúng chỉ có thể tái hợp nhất trong tôn giáo, vì trong tôn giáo “Tình yêu và phản tư được hợp nhất”. Tôn giáo cho phép con người vượt lên khỏi cuộc sống hữu hạn để hợp nhất với “sự sống vô tận”, hay với “tinh thần” bao trùm cả vũ trụ. Thuật ngữ “tha hoá” được Hêghen dùng và diễn đạt khá rõ nét ngay ở tác phẩm “Hiện tượng học tinh thần”. Mác gọi “Hiện tượng học tinh thần” của Hêghen là cội nguồn thực sự và “bí ẩn” của học thuyết Hêghen, tức là cái chìa khoá mà có được nó ta có thể mở toang cánh cửa đi vào nội dung quý giá của học thuyết này.
Điều này cũng hoàn toàn đúng với vấn đề tha hoá. Trên thực tế trong tác phẩm này của Hêghen đã có những phác thảo về phép biện chứng của bước chuyển mang tính tha hoá từ chân lý thành sai lầm, lý tính thành giác tính, thống trị - bị trị, tự do - lệ thuộc và nô lệ. Theo Hêghen, tinh thần tuyệt đối trực tiếp hay gián tiếp bị tha hoá thành tự nhiên, thành các thể chế và các đồ vật do con người tạo ra. Và tất cả các quá trình tha hoá đó dường như là mặt trái của sự vận động của ý niệm tuyệt đối về chính mình, sự vận động đến sự hiện thân trọn vẹn như là sự tự nhận thức.
Quá trình vận động, phát triển của ý niệm tuyệt đối được Hêghen lý giải là quá trình tự tha hoá và lột bỏ tha hoá của nó. Có thể tóm lược quá trình đó như sau: Ý niệm tuyệt đối tự tha hoá để trở thành giới tự nhiên, sau đó tinh thần lại tự vượt bỏ hình thức giới tự nhiên và phóng chiếu sự tồn tại của nó trong lịch sử – xã hội, trong văn hoá tinh thần và tự kết thúc sự vận động của nó ở giai đoạn ý thức cá nhân, giai đoạn ý thức xã hội. Và giai đoạn cao nhất là lúc ý niệm tuyệt đối kết thúc quá trình tự vận động của nó dưới hình thức tôn giáo, nghệ thuật và triết học.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay Cách luận giải của Hêghen về tha hoá tương ứng với nguyên tắc của ông về đồng nhất tư duy và tồn tại hoá ra giống hệt như quá trình bản thể luận phổ quát. Từ sơ đồ bản thể luận phổ quát trên đây thì chính sự khách quan hoá của tinh thần là bản thân sự tha hoá.
Đó cũng chính là phương thức bảo tồn sự tồn tại của chính ý niệm tuyệt đối. Và bất kỳ quá trình nào trong số chúng - nhận thức luận hay bản thể luận, thì theo Hêghen, cũng đều nhất định diễn ra thông qua mặt đối lập của mình và sau đó tha hoá nhất định phải được vượt bỏ và khắc phục: tinh thần quay trở về với chính mình qua đầy rẫy những đớn đau cực hình và những thử thách trải nghiệm đầy thông thái. Chân lý đạt tới tính trọn vẹn và tuyệt đối, thế giới được lý tính rọi sáng hoàn toàn. Lập trường của Hêghen trong vấn đề tha hoá đầy lạc quan, có thể cảm thấy điều đó khắp nơi trong “Hiện tượng học tinh thần”.
Chính trong “Hiện tượng học tinh thần”, Hêghen đã khảo sát sơ đồ nổi tiếng về sự cải biến mang tính tha hoá của “thống trị” thành “bị trị” và sự chuyển hoá “Nô” thành mặt đối lập của mình. Hêghen mô tả biện chứng của tính tự trị và tính phi tự trị của tự ý thức qua các hình tượng “chủ nhân” và “người làm công bị cưỡng bức”. Các hình tượng đó hoà quyện vào mạng lưới các biến cố lịch sử - triết học phức tạp: đấu tranh giữa chủ và người làm công - đó vừa là “chiến tranh” kiểu Hêracơlít, vừa là “đấu tranh của tất cả chống lại tất cả” kiểu Hốpxơ… Nhưng trong mọi biến thiên thăng trầm của mối quan hệ qua lại đó giữa Chủ và Nô vốn cũng có thể được đặt một cách tự nhiên vào hệ thống các khái niệm của xã hội phong kiến, thì sơ đồ đó vẫn mang một ý bài phong kiến xác định. Tuy nhiên, cũng cần nhận ra việc ở Hêghen còn ẩn dấu cả những lời chỉ trích xã hội tư sản [Xem 55, tr.
Trong cuộc đấu tranh giữa “Chủ” và “Nô”, quá trình biện chứng của sự tha hoá và sự “vượt bỏ” tha hoá luôn diễn ra kế tiếp nhau. Cuộc đấu tranh đó được Hêghen diễn giải dưới hình thức cuộc tranh cãi, đấu tranh giữa các tự ý 15 (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay thức đối lập lẫn nhau, làm cho “cá nhân chống cá nhân”. Cuộc đấu tranh của chúng đạt đến đỉnh điểm căng thẳng và “mối quan hệ (Verhalnis) [hay “tình huống”] của hai Tự - ý thức được quy định theo kiểu chúng tự chứng tỏ (bewahren) và chứng tỏ cho nhau thông qua cuộc chiến đấu mất còn” [55, tr. Kẻ thất bại trong cuộc chiến này nếu như chưa chết, sẽ trở thành Nô.
Người nào phải phục tùng ý chí của kẻ khác, sẽ phải có ý thức nô lệ, còn ông chủ phấn chấn thấy rằng, giờ đây ông ta đã có quyền hoàn toàn không thể bị chia xẻ cho những người làm công bị khuất phục và toàn quyền sai khiến bắt phục vụ các nhu cầu của mình. Còn “Nô” với tư cách cá nhân bị tha hóa đã trở nên bất lực và thấy rằng, họ chỉ còn lại mỗi việc là lao động không phải cho mình mà cho kẻ khác. Hêghen cũng chỉ rõ trong cương vị là “Chủ”, người đó hoàn toàn có quyền hưởng thụ những sản phẩm trong quá trình sản xuất và đạt được sự thoả mãn trong việc hưởng thụ nó, nhưng kẻ đó không thể thoả mãn nhu cầu của mình một cách đơn độc mà phải phụ thuộc vào kẻ sản xuất ra vật, tức là “Nô”. Điều đó có nghĩa là giờ đây “tính không độc lập tự chủ” chuyển hoá từ vật sang chủ, bởi lẽ chủ đã biến thành phụ thuộc vào hoạt động sản xuất của kẻ tôi tớ của mình, trong khi đó kẻ tôi tớ (“Nô”) càng ngày càng trở nên độc lập - tự chủ và tự bản thân đang hoá ra làm chủ tình hình.