Tổng quan nghiên cứu

Năm 2019, giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh Thái Nguyên ghi nhận mức tăng trưởng bứt phá khi đạt 743,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với năm 2018. Thành tích này giúp địa phương xác lập vị trí thứ nhất tại vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, đồng thời vươn lên đứng thứ tư trên phạm vi cả nước về quy mô phát triển công nghiệp. Hoạt động xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nhanh chóng trở thành đầu tàu tăng trưởng của địa phương với tỷ trọng đóng góp đạt tới 98,5% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.

Tuy nhiên, đằng sau sự tăng trưởng ấn tượng về quy mô số lượng là một cơ cấu nội tại tiềm ẩn nhiều rủi ro thiếu bền vững. Trên 97% giá trị xuất khẩu công nghiệp chỉ tập trung cục bộ vào nhóm mặt hàng điện tử và linh kiện viễn thông. Đáng chú ý hơn, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đóng góp áp đảo tới 98,4% tổng giá trị xuất khẩu công nghiệp của tỉnh, trong khi khối doanh nghiệp nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng còn rất khiêm tốn. Công tác quản lý nhà nước trên địa bàn vẫn còn bộc lộ một số bất cập như bộ máy quản lý đôi lúc còn chồng chéo, các chính sách hỗ trợ kỹ thuật và xúc tiến thương mại chưa theo kịp biến động kinh tế toàn cầu.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với xuất khẩu công nghiệp; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý tại Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2020; nhận diện rõ các điểm nghẽn thể chế và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý xuất khẩu đến năm 2025.

Phạm vi nghiên cứu được xác định trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, khai thác dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2020 và khảo sát dữ liệu sơ cấp thực địa từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ định lượng giúp chính quyền địa phương cơ cấu lại tỷ trọng xuất khẩu, hướng đến nâng thị phần kim ngạch của doanh nghiệp nội địa lên trên 5% và hoàn thiện hệ thống quản trị công trong ngoại thương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển và hiện đại, tiêu biểu là lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo và lý thuyết thương mại quốc tế của Robert Feenstra cùng Alan Taylor năm 2010. Các lý thuyết này giải thích động lực thúc đẩy các quốc gia và địa phương tham gia phân công lao động quốc tế nhằm tối ưu hóa các nguồn lực sẵn có. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết quản lý hành chính nhà nước hiện đại từ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017, tiếp cận quản lý xuất khẩu dưới góc độ toàn diện của bộ máy công quyền từ lập pháp, hành pháp đến các khâu chỉ đạo điều hành trực tiếp.

Mô hình nghiên cứu được thiết kế theo chu trình quản lý nhà nước khép kín gồm 4 trụ cột chính: hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch xuất khẩu; tổ chức bộ máy và thực thi quy định pháp luật; vận hành các công cụ điều tiết chính sách bao gồm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan như tỷ giá hối đoái, tín dụng hỗ trợ, bảo hiểm xuất khẩu, hàng rào kỹ thuật; kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm thương mại.

Nghiên cứu chuẩn hóa các khái niệm then chốt: xuất khẩu hàng hóa công nghiệp căn cứ theo Luật Thương mại năm 2005; quản lý nhà nước về xuất khẩu; các hình thức xuất khẩu cơ bản gồm xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu gián tiếp ủy thác, gia công xuất khẩu và xuất khẩu tại chỗ theo quy định tại Nghị định số 08/2015/NĐ-CP cùng Thông tư số 39/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp chặt chẽ giữa hai kênh thông tin. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp liên tục trong giai đoạn 2016 - 2020 từ các báo cáo chính thức của Sở Công Thương tỉnh Thái Nguyên, Chi cục Hải quan Thái Nguyên, Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên và các văn bản điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu khảo sát điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu chuyên gia trong khoảng thời gian từ ngày 20/04/2020 đến ngày 20/06/2020.

Cỡ mẫu khảo sát doanh nghiệp được xác định khoa học theo công thức chọn mẫu Slovin năm 1960 với độ tin cậy 95% và sai số chuẩn cho phép e = 0,05 trên tổng thể N = 185 doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh tính đến ngày 31/12/2019. Quy mô mẫu đại diện tính toán đạt n = 126 doanh nghiệp. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng gồm 95 doanh nghiệp thuộc khối FDI và 31 doanh nghiệp trong nước nhằm phản ánh đúng tỷ trọng đóng góp kim ngạch thực tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành điều tra tổng thể toàn bộ 18 cán bộ, lãnh đạo chuyên trách làm công tác quản lý xuất khẩu tại Sở Công Thương và Chi cục Hải quan Thái Nguyên.

Phương pháp phân tích số liệu chủ đạo gồm thống kê mô tả, so sánh liên kỳ và phân tích khoảng cách giá trị trung bình trên thang đo Likert 5 cấp độ với độ rộng khoảng cách là 0,8 điểm. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đối chiếu khách quan giữa hiệu lực thực thi của cơ quan quản lý và mức độ hài lòng, đáp ứng của cộng đồng doanh nghiệp, bảo đảm kết quả đánh giá mang tính thực chứng cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về hoạt động xuất khẩu công nghiệp và công tác quản lý tại địa phương:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu công nghiệp đạt quy mô đột phá nhưng thiếu cân đối nghiêm trọng về danh mục ngành hàng. Năm 2019, giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tỉnh Thái Nguyên đạt 743,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với năm 2018, trong đó sản phẩm công nghiệp xuất khẩu chiếm tới 98,5% tổng kim ngạch toàn tỉnh. Dẫu vậy, mặt hàng điện thoại và linh kiện điện tử thông minh chiếm tới trên 97% tổng giá trị xuất khẩu công nghiệp, trong khi các nhóm ngành tiềm năng khác như dệt may, chè chế biến hay cơ khí luyện kim chỉ chiếm chưa đầy 3%.

Thứ hai, mức độ phụ thuộc vào khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở mức rất cao. Khối doanh nghiệp FDI đóng góp hơn 98,4% tổng giá trị xuất khẩu công nghiệp năm 2019. Ngược lại, các doanh nghiệp trong nước chỉ đóng góp khoảng 1,6%, chủ yếu dừng lại ở các hợp đồng gia công phụ trợ đơn giản với hàm lượng giá trị gia tăng nội địa thấp.

Thứ ba, sợi dây liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và các tập đoàn đa quốc gia còn rất lỏng lẻo. Số lượng doanh nghiệp địa phương đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật để trở thành nhà cung ứng cấp 1 hoặc cấp 2 còn đếm trên đầu ngón tay, khiến phần lớn nguyên phụ liệu công nghệ cao vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.

Thứ tư, hiệu quả vận hành công cụ hành chính có sự phân hóa rõ rệt. Khảo sát 126 doanh nghiệp cho thấy các thủ tục thông quan hải quan điện tử được đánh giá tích cực, nhưng mức độ hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường quốc tế và cảnh báo rào cản kỹ thuật từ các cơ quan quản lý chỉ đạt điểm trung bình 3,12 trên 5 điểm, tức ở ngưỡng trung bình.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng mất cân đối bắt nguồn từ việc địa phương tập trung thu hút các tập đoàn FDI quy mô lớn nhằm tạo đột phá tăng trưởng kinh tế nhanh trong ngắn hạn, nhưng lại thiếu các cơ chế ràng buộc chặt chẽ về tỷ lệ nội địa hóa và chuyển giao công nghệ. Các chính sách khuyến khích theo Quyết định số 1550/QĐ-UBND ngày 13/6/2017 và Kế hoạch số 37/KH-UBND của tỉnh đã cải thiện rõ rệt môi trường kinh doanh, nhưng công cụ hỗ trợ tài chính, mặt bằng sản xuất và tín dụng ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp phụ trợ trong nước vẫn còn phân tán.

Khi so sánh với kinh nghiệm thực tế từ tỉnh Bắc Ninh, nơi kim ngạch xuất khẩu công nghiệp chiếm khoảng 13% tổng giá trị cả nước năm 2019, nghiên cứu nhận thấy cả hai địa phương đều đối mặt với bài toán bẫy gia công FDI. Tuy nhiên, bài học từ thành phố Pattaya của Thái Lan cho thấy chính quyền đã áp dụng hiệu quả chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có điều kiện, gắn việc miễn giảm thuế với nghĩa vụ liên kết đào tạo và sử dụng nhà cung cấp linh kiện cơ khí bản địa. Đây là khoảng trống lớn mà Thái Nguyên chưa khai thác tốt trong giai đoạn vừa qua.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được trình bày rõ nét qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu kim ngạch xuất khẩu chia theo loại hình doanh nghiệp với lát cắt 98,4% thuộc về khu vực FDI so với 1,6% của khu vực trong nước, kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và thu ngân sách thuế xuất khẩu qua các năm từ 2016 đến 2020 nhằm minh chứng cho tính dễ tổn thương của cơ cấu nguồn thu địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, rà soát và điều chỉnh chiến lược, kế hoạch phát triển xuất khẩu công nghiệp theo hướng bền vững. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên cần giao Sở Công Thương chủ trì xây dựng Đề án phát triển xuất khẩu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Mục tiêu trọng tâm là nâng tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa trong hàng hóa công nghiệp xuất khẩu lên mức tối thiểu 20%, đồng thời đa dạng hóa thị trường xuất khẩu ngoài các đối tác truyền thống thông qua việc tận dụng triệt để các cam kết thương mại tự do thế hệ mới.

Hai là, ban hành chính sách kích hoạt chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và khối FDI. Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp cùng Ban Quản lý các Khu công nghiệp Thái Nguyên tham mưu gói hỗ trợ tiếp cận đất đai, hạ tầng nhà xưởng và hỗ trợ 50% kinh phí đào tạo nhân lực kỹ thuật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia mạng lưới phụ trợ. Mục tiêu cụ thể là đến năm 2024 kết nối thành công ít nhất 15 doanh nghiệp cơ khí và linh kiện địa phương trở thành nhà cung ứng chính thức cho các tập đoàn công nghệ lớn.

Ba là, hiện đại hóa các công cụ quản lý hải quan và hoạt động xúc tiến thương mại. Chi cục Hải quan Thái Nguyên cần duy trì cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, phấn đấu cắt giảm 25% thời gian thông quan thực tế đối với các lô hàng linh kiện công nghiệp. Đồng thời, Trung tâm Xúc tiến Thương mại trực thuộc Sở Công Thương cần chủ động phối hợp với hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài tổ chức định kỳ 4 hội thảo chuyên đề mỗi năm nhằm cung cấp thông tin cập nhật về các rào cản kỹ thuật và quy tắc xuất xứ hàng hóa cho doanh nghiệp.

Bốn là, đổi mới phương thức thanh tra, kiểm tra chuyên ngành và quản lý rủi ro. Các cơ quan chức năng gồm Cục Thuế, Chi cục Hải quan và lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Thái Nguyên cần xây dựng quy chế phối hợp kiểm tra liên ngành, cam kết không tổ chức kiểm tra chồng chéo quá 1 lần trong năm đối với các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật. Mục tiêu đặt ra là giảm tỷ lệ doanh nghiệp xuất khẩu vi phạm hành chính qua kiểm tra sau thông quan xuống dưới mức 3% trong giai đoạn 2022 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương bao gồm Sở Công Thương, Chi cục Hải quan, Cục Thuế và Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên. Luận văn cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng và hệ thống chỉ tiêu lượng hóa khách quan, giúp các đơn vị này tham chiếu khi xây dựng quy hoạch phát triển ngành công nghiệp và hoạch định các chương trình xúc tiến thương mại thường niên.

Nhóm các nhà hoạch định chính sách cấp trung ương thuộc Bộ Công Thương và Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Nghiên cứu mang lại góc nhìn thực tế sâu sắc từ một địa phương thuộc nhóm 4 tỉnh có quy mô công nghiệp lớn nhất cả nước, hỗ trợ đắc lực cho việc nghiên cứu và điều chỉnh khung khổ pháp lý về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn với yêu cầu gia tăng tỷ lệ nội địa hóa trên quy mô toàn quốc.

Nhóm hiệp hội ngành nghề và các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu công nghiệp. Báo cáo nghiên cứu giúp lãnh đạo các doanh nghiệp nắm vững hệ thống thủ tục hành chính, quy trình kiểm tra chuyên ngành hải quan theo Thông tư số 39/2018/TT-BTC, từ đó chủ động phòng ngừa rủi ro pháp lý và xây dựng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh để thâm nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế quốc tế. Công trình là tài liệu học thuật giá trị tham khảo về kỹ thuật chọn mẫu theo công thức Slovin với 126 doanh nghiệp khảo sát, phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát Likert và khung phân tích quản lý nhà nước đối với hoạt động ngoại thương giai đoạn 2016 - 2020.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên là gì? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở mức độ tập trung quá cao vào một nhóm sản phẩm và một khu vực kinh tế. Năm 2019, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI chiếm tới 98,4% kim ngạch xuất khẩu và nhóm sản phẩm điện thoại, linh kiện điện tử chiếm trên 97%. Sự áp đảo này khiến nền kinh tế địa phương dễ tổn thương trước các biến động tiêu dùng quốc tế và làm giảm giá trị gia tăng giữ lại thực tế.

Căn cứ khoa học nào giúp tác giả xác định cỡ mẫu khảo sát 126 doanh nghiệp trong nghiên cứu? Quy mô 126 doanh nghiệp được tính toán dựa trên công thức chọn mẫu xác suất Slovin năm 1960 với độ tin cậy 95% và sai số chuẩn e = 0,05 từ tổng thể 185 doanh nghiệp xuất khẩu công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh đến ngày 31/12/2019. Mẫu được phân tầng ngẫu nhiên thành 95 doanh nghiệp FDI và 31 doanh nghiệp trong nước, bảo đảm tính đại diện toàn diện cho các thành phần kinh tế.

Các công cụ quản lý phi thuế quan có ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến doanh nghiệp xuất khẩu địa phương? Các công cụ phi thuế quan như thủ tục kiểm tra hải quan, quy chuẩn kỹ thuật và kiểm tra chuyên ngành tác động trực tiếp đến thời gian giải phóng hàng và chi phí lưu kho của doanh nghiệp. Trong thực tế khảo sát, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính đã hỗ trợ doanh nghiệp rút ngắn quy trình thông quan, nhưng yêu cầu khắt khe về chứng nhận xuất xứ hàng hóa vẫn là rào cản lớn đối với nhiều đơn vị sản xuất nhỏ.

Bài học kinh nghiệm từ tỉnh Bắc Ninh và thành phố Pattaya mang lại gợi ý gì cho Thái Nguyên? Thực tiễn từ Bắc Ninh cho thấy xuất khẩu công nghiệp tăng nhanh chiếm khoảng 13% cả nước nhưng vẫn chịu áp lực lớn về tính bền vững nếu thiếu doanh nghiệp nội địa tham gia. Trong khi đó, thành phố Pattaya của Thái Lan thành công nhờ gắn các chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp với điều kiện bắt buộc về liên kết phát triển công nghiệp phụ trợ, mở ra hướng đi thiết thực cho Thái Nguyên.

Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nội địa tại Thái Nguyên cần ưu tiên hành động gì để mở rộng xuất khẩu? Doanh nghiệp địa phương cần tập trung đầu tư chiều sâu vào dây chuyền công nghệ và hệ thống quản trị chất lượng nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế khắt khe. Song song đó, các đơn vị cần chủ động tận dụng chính sách hỗ trợ xúc tiến của Sở Công Thương để tham gia vào mạng lưới cung ứng linh kiện cấp 2 và cấp 3 cho các doanh nghiệp FDI lớn trên địa bàn tỉnh.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa vững chắc cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với xuất khẩu công nghiệp và đúc kết những bài học thực tiễn giá trị từ kinh nghiệm của thành phố Pattaya thuộc Thái Lan và tỉnh Bắc Ninh.
  • Phản ánh trung thực quy mô phát triển công nghiệp ấn tượng của tỉnh Thái Nguyên với giá trị sản xuất năm 2019 đạt 743,8 nghìn tỷ đồng, đóng góp 98,5% vào tổng kim ngạch xuất khẩu toàn địa phương.
  • Nhận diện trực diện những hạn chế nội tại mang tính sống còn khi khối doanh nghiệp FDI chiếm tới 98,4% kim ngạch xuất khẩu và nhóm hàng điện tử chiếm trên 97%, đặt ra yêu cầu cấp bách về tái cơ cấu mặt hàng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, bao quát từ hoàn thiện quy hoạch chiến lược, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị nội địa đến hiện đại hóa công cụ hải quan và đổi mới kiểm tra chuyên ngành.
  • Đóng góp bộ dữ liệu nghiên cứu định lượng mẫu mực thông qua khảo sát 126 doanh nghiệp và 18 cán bộ công quyền, tạo cơ sở khoa học tin cậy phục vụ công tác điều hành vĩ mô.

Về lộ trình các bước tiếp theo, chính quyền tỉnh Thái Nguyên cần nhanh chóng rà soát các văn bản quy phạm hiện hành từ năm 2021, đồng thời tích hợp các mục tiêu phát triển công nghiệp hỗ trợ vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh giai đoạn 2021 - 2025. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần tăng cường phối hợp hành động để chuyển hóa mô hình xuất khẩu từ chiều rộng sang chiều sâu, bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn cho địa phương.