CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 1. Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư theo cách hiểu tổng quát nhất là quá trình bỏ vốn, nhằm mục đích thu được hiệu quả trong tương lai.
Có nhiều cách hiểu và định nghĩa về đầu tư. Theo từ điển quản lý tài chính ngân hàng của nhóm học giả người Pháp do Pierrce Conso đại diện, thì đầu tư bao gồm ba khái niệm, tuỳ thuộc từng quan điểm: Theo quan điểm kinh tế, đầu tư là làm tăng vốn cố định, tham gia vào hoạt động của các doanh nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp. ó là quá trình làm tăng tài sản cố định về sản xuất và kinh doanh. Theo quan điểm tài chính, đầu tư là quá trình làm bất động hoá một số vốn, nhằm thu lợi nhuận trong nhiều chu kỳ nối tiếp sau này.
Khái niệm này cho biết, ngoài việc tạo ra các tài sản vật chất tham gia trực tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp, còn bao gồm các khoản chi tiêu không tham gia ngay một cách trực tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp như các chi phí nghiên cứu đào tạo nhân viên… Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển trong hoạt động đầu tư, cụ thể đó là việc bỏ vốn đế triển khai các hoạt động XDCB với mục đích tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSC giúp phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân (Từ Quang Phương, 2010).2 Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư xây dựng cơ bản là một phần của đầu tư phát triển nên đặc điểm giữa hai khái niệm có nhiều điểm tương đồng. Bao gồm những đặc điểm chủ yếu sau đây: 7 - Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đòi hỏi lượng vốn lớn và nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Vì vậy, quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tạo vốn và huy động hợp lý tránh ứ đọng và thất thoát vốn đầu tư, đảm bảo cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện đúng theo kể hoạch và tiến độ đã được xác định. - Ðầu tư xây dựng cơ bản có tính chất lâu dài, thời kỳ đầu tư bắt đầu khởi công cho đến khi hoàn thành và đưa vào vận hành, thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến thiên xảy ra.
Vì vậy, các yếu tố thay đổi theo thời gian sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, chẳng hạn: giá cả, lạm phát, lãi suất. - Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng gắn liền với đất xây dựng công trình. Vì vậy, mỗi công trình xây dựng có một địa điểm xây dựng và chịu sự chi phối bởi điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, môi trường, khí hậu, thời tiết. của nơi đầu tư xây dựng công trình, nơi đầu tư xây dựng công trình cũng chính là nơi đưa công trình vào khai thác, sử dụng.
Sản phẩm xây dựng cơ bản chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng. Chính vì vậy, quản lý vốn đầu tư XDCB phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình được xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình (Nguyễn Tuấn Dũng, 2015). - Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản có tính đơn chiếc; mỗi hạng mục công trình, công trình có một thiết kế và dự toán riêng tùy thuộc vào mục đích đầu tư và điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu, thời tiết. của nơi đầu tư xây dựng công trình.
Mục đích của đầu tư và các điều kiện trên quyết định đến qui hoạch, kiến trúc, qui mô và kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công. và dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình. Vì vậy, quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng và vốn đầu tư. 8 - Ðầu tư xây dựng cơ bản được tiến hành trong tất cả ngành kinh tế quốc dân, các lĩnh vực kinh tế xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây dựng, y tế, văn hóa , xã hội, quốc phòng, an ninh.
nên sản phẩm xây dựng cơ bản có nhiều loại hình công trình và mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng. Quản lý và cấp vốn đầu tư XDCB phải phù hợp với đặc điểm của từng loại hình công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. - Ðầu tư xây dựng cơ bản thường được tiến hành ngoài trời nên luôn chịu ảnh hưỏng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công xây dựng công trình thường xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư xây dựng công trình. Quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thúc đẩy quá trình tổ chức hợp lý các yếu tố về nhân lực, máy móc thi công.
nhằm giảm bớt lãng phí, thiệt hại về vật tư và tiền vốn trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình.” Những đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản nêu trên cho thấy tính đa dạng và phức tạp của đầu tư xây dựng cơ bản và đòi hỏi cần phải có cách thức tổ chức quản lý và cấp phát vốn phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư. Chính vì vậy, quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản cần phải có những nguyên tắc nhất định, biện pháp, trình tự quản lý, cấp phát vốn dựa trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý chi NSNN nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm về vốn đầu tư xây dựng cơ bản Vốn đầu tư XDCB là giá trị tài sản xã hội đã được sử dụng nhằm thực hiện các dự án đầu tư XDCB mang lại hiệu quả trong tương lai.
Hay nói cách khác, đầu tư phát triển là đầu tư mang lại kết quả làm tăng giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ nâng cao mức thu nhập bình quân của mỗi quốc gia, nhưng nghĩa quan trọng nhất của đầu tư phát triển là làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Vốn đầu tư XDCB là yếu tố quyết định để kết hợp các yếu tố trong sản xuất kinh doanh, nó trở thành yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả 9 các dự án đầu tư và đặc biệt có vai trò to lớn cho sự phát triển kinh tế đất nước. Bất kỳ một quá trình tăng trưởng và phát triển nào muốn tiến hành được đều phải có vốn đầu tư. Quản lý vốn đầu tư XDCB như thế nào để đạt tới mục tiêu đã định là yếu tố không kém phần quan trọng.
Mục tiêu có thể đạt được bằng nhiều phương tiện khác nhau, cũng như phương tiện có thể đạt được mục tiêu khác nhau. Muốn hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB nhằm đóng góp cao nhất vào sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không chỉ cần một số lượng vốn đầu tư là đủ mà còn cần phải thực hiện nhiều yếu tố khác nhau tức là sử dụng một loạt các giải pháp đồng bộ và thích hợp trong quá trình quản lý vốn đầu tư (Từ Quang Phương, 2010). Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước là số tiền được chính phủ cấp phát và sử dụng để thực hiện các dự án, công trình cơ bản như xây dựng cầu, đường, trường học, bệnh viện, cơ sở hạ tầng, và các dự án quan trọng khác nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia. Ngân sách nhà nước là nguồn tiền chính của chính phủ để tài trợ các hoạt động này, và các khoản vốn được sử dụng từ ngân sách nhà nước để đầu tư vào xây dựng cơ bản thường được phân bổ dựa trên các quyết định và ưu tiên của chính phủ, theo đúng quy định của pháp luật và kế hoạch phát triển quốc gia.
Các nguồn lực thuộc quyền sở hữu và chi phối toàn diện của Nhà nước được sử dụng cho hoạt động đầu tư XDCB được gọi là VĐT XDCB từ NSNN. NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước tham gia huy động và phân phối VĐT thông qua hoạt động thu, chi ngân sách. - Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức thu cụ thể, VĐT XDCB từ NSNN được hình thành từ các nguồn sau: + Nguồn vốn thu trong nước (thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước…và các khoản thu khác). + Nguồn vốn từ nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nguồn viện trợ phi Chính phủ).
10 Phân cấp quản lý ngân sách chia VĐT XDCB từ NSNN gồm: + VĐT XDCB của ngân sách trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách trung ương đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia. Nguồn vốn này được giao cho các bộ, ngành quản lý sử dụng. + VĐT XDCB của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu ngân sách địa phương đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương. Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) quản lý thực hiện.
- Mức độ kế hoạch hoá, VĐT từ NSNN được phân thành: + VĐT xây dựng tập trung: nguồn vốn này được hình thành theo kế hoạch với tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho từng bộ, ngành và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. + VĐT XDCB từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyết của Quốc hội: thu từ thuế nông nghiệp, thu bán, cho thuê nhà của Nhà nước, thu cấp quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất… + VĐT XDCB theo chương trình quốc gia.