Mở đầu Phần 2. Cơ sở và lý luận thực tiễn Phần 3. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5.
Kết luận và kiến nghị. CƠ SỞ VÀ LÝ LUẬN THỰC TIỄN 2. Các vấn đề chung về đầu tư XDCB từ nguồn ngân sách nhà nước 2. Một số khái niệm a.
Đầu tư xây dựng cơ bản Theo nghiên cứu của Bùi Mạnh Cường (2010) về thực trạng và giải pháp đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam: Xây dựng cơ bản là một khâu trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản. Kết quả của hoạt động xây dựng cơ bản là tạo ra các tài sản cố định có năng lực sản xuất và phục vụ nhất định. Cũng có thể nói: Xây dựng cơ bản là một quá trình đổi mới và tái sản xuất có kế hoạch các tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chất cũng như không sản xuất vật chất. Nó thực hiện phương thức xây dựng mới, xây dựng lại, khôi phục và mở rộng các tài sản cố định.
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mới tài sản cố định, bao gồm các hoạt động đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản (khảo sát, tư vấn xây dựng, thi công xây lắp công trình, sản xuất và cung ứng thiết bị vật tư xây dựng…) nhằm thực hiện xây dựng các công trình. Vốn được xem là toàn bộ những yếu tố được sử dụng vào việc sản xuất ra các của cải; vốn tạo nên sự đóng góp quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Vốn đầu tư cùng với lao động và đất đai là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của mọi quá trình sản xuất. Lý thuyết kinh tế hiện đại ngày nay đề cập vốn đầu tư theo quan điểm rộng hơn, đầy đủ hơn, bao gồm cả đầu tư để nâng cao tri thức, thậm chí bao gồm cả đầu tư để tạo ra nền tảng, tiêu chuẩn đạo đức xã hội, môi trường kinh doanh (nguồn vốn xã hội) cũng là những đầu tư quan trọng của quá trình sản xuất.
Theo Luật Đầu tư năm 2014 (Quốc hội, 2014), “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước Nguồn vốn ĐTPT kinh tế của một nước được hình thành từ hai nguồn vốn: Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài. Đối với nước ta và các nước 4 đang phát triển khác, đứng trước thực trạng của nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng chậm, thu nhập bình quân đầu người thấp, nguồn vốn tiết kiệm so với GDP còn rất hạn hẹp, việc kết hợp huy động vốn nước ngoài với vốn trong nước, trong đó vốn trong nước có vai trò quyết định. Khi đề cập đến vai trò của từng nguồn vốn, nguồn vốn trong nước là quyết định và nguồn vốn bên ngoài là quan trọng.
Như vậy, cần phải kết hợp huy động cả hai nguồn vốn để ĐTPT kinh tế, trong đó nguồn vốn trong nước có ý nghĩa chiến lược đối với sự tăng trưởng chiến lược của mỗi quốc gia. Để phù hợp với phạm vi của đề tài, trong phạm vi chỉ trình bày về nguồn vốn đầu tư trong nước. Nguồn vốn đầu tư trong nước được hình thành chủ yếu từ: tiết kiệm của Chính phủ, tiết kiệm của dân cư, tiết kiệm của doanh nghiệp và vốn huy động thông qua sử dụng các tài sản quốc gia, ngoài ra nguồn vốn đầu tư trong nước có thể hình thành từ tài trợ nước ngoài, dưới hình thức vay hoặc nhận viện trợ của Chính phủ. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước bao gồm các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước (NSNN), vốn vay trong nước (trái phiếu Chính phủ, tín dụng ngân hàng do Nhà nước bão lãnh và vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước), vốn vay nước ngoài và vốn đầu tư của các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước.
Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 (Quốc hội, 2015), “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Hệ thống ngân sách nhà nước quy định NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương. Từ khái niệm đầu tư XDCB và sự phân tích về NSNN có thể hiểu khái niệm vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một phần của vốn ĐTPT nguồn NSNN, được hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chi cho đầu tư XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân.
Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư XDCB trước hết là một hoạt động đầu tư nên cũng có những vai trò chung của hoạt động đầu tư như: tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động 5 đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước. Ngoài ra, với tính chất đặc thù, đầu tư XDCB là điều kiện trước tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế, có những ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền kinh tế và với từng cơ sở sản xuất. Đó là: - Đầu tư XDCB bảo đảm tính tương ứng giữa cơ sở vật chất kỹ thuật và phương thức sản xuất. Mỗi phương thức sản xuất từ đặc điểm sản phẩm, yếu tố nhân lực, vốn và điều kiện về điạ điểm.lại có đòi hỏi khác biệt về máy móc, thiết bị; nhà xưởng.
Đầu tư xây dựng cơ bản đã giải quyết vấn đề này. - Đầu tư XDCB là điều kiện phát triển các ngành kinh tế và thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng. Khi đầu tư XDCB được tăng cường, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành, phát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân. Như vậy đầu tư XDCB đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của các ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế.
Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nước, tăng tích luỹ đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế xã hội. Như vậy đầu tư XDCB là hoạt động rất quan trọng: là một khâu trong quá trình thực hiện đầu tư phát triển, nó có quyết định trực tiếp đến sự hình thành chiến lược phát triển kinh tế từng thời kỳ; góp phần làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chính sách kinh tế của Nhà nước. Các giai đoạn của đầu tư xây dựng cơ bản a. Trình tự đầu tư Dự án đầu tư được hình thành và phát triển với nhiều giai đoạn riêng biệt, nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau, thậm chí đan xen nhau theo một tiến trình lôgic.
Mặc dù vậy, có thể nghiên cứu chúng một cách tương đối độc lập và trên các góc độ khác nhau để hiểu chúng một cách hệ thống hơn, toàn diện hơn. Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, trình tự thực hiện dự án đầu tư bao gồm ba giai đoạn theo sơ đồ sau: 6 Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư Nghiên Nghiên cứu Nghiên cứu Thẩm định cứu cơ hội tiền khả thi khả thi và phê đầu tư duyệt dự án Giai đoạn 2: Thực hiện đầu tư Thực hiện Khảo sát, Ký kết hợp Thi công Chạy thử, việc giao đất Thiết kế, đồng, xây xây lắp CT, nghiệm thu hoặc thuê đất lập tổng dự dựng, thiết Giám sát thi và quyết (nếu có); toán. bị công XD toán chuẩn bị MBXD, rà phá bom mìn Giai đoạn 3: Đưa vào khai thác, sử dụng Hình 2. Trình tự các giai đoạn đầu tư của dự án Nguồn: Tổng hợp từ các quy định quản lý dự án đầu tư xây dựng Bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau, giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn sau.
Tuy nhiên tùy tính chất và quy mô của dự án mà các bước trên có thể rút ngắn lại như: ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đối với những dự án vừa và nhỏ thì có thể không cần bước nghiên cứu cơ hội đầu tư và bước nghiên cứu tiền khả thi mà xây dựng luôn dự án khả thi, thậm chí chỉ cần lập báo cáo kinh tế kỹ thuật đối với những công trình: xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất). Khi bước trước đã thực hiện xong, trước khi kiểm tra thực hiện bước tiếp theo phải kiểm tra để đánh giá đầy đủ các khía cạnh về kinh tế, tài chính, kỹ thuật của bước đó, nếu đạt yêu cầu về các tiêu chuẩn, quy phạm đã quy định (nếu có) cho bước đó và được cấp có thẩm quyền chấp nhận mới thực hiện 7 bước tiếp theo; đáng lưu ý nhất là thực hiện trình tự theo giai đoạn (chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa vào khai thác sử dụng) phải được cấp có thẩm quyền, cơ quan có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt nghiêm túc. • Chuẩn bị đầu tư Giai đoạn này bao gồm các bước như sau: - Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư. - Tiến hành thăm dò, xem xét thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ; tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư.
– Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng. – Lập dự án đầu tư. – Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan chức năng thẩm định dự án đầu tư. Với những nội dung quan trọng như trên thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư là giai đoạn tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau (giai đoạn thực hiện đầu tư và đưa vào khai thác sử dụng).