Phân tích chính sách quản lý vốn đầu tư XDCB từ ngân sách tại Quận 12

Luận văn phân tích thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng từ ngân sách tại Quận 12, TPHCM, chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

76
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách công và thực hiện chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Chính sách công và thực hiện chính sách công

1.1.1.1. Chính sách công
1.1.1.2. Quy trình thực hiện chính sách công

1.1.2. Chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản và thực hiện chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản

1.1.2.1. Đặc điểm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
1.1.2.2. Đặc điểm của quản lý vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước

2. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

3. Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản Quận 12

Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) từ ngân sách nhà nước là một nhiệm vụ chiến lược, đặc biệt tại các khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh như Quận 12, TPHCM. Vốn đầu tư công không chỉ là nguồn lực tài chính trọng yếu để phát triển kinh tế - xã hội mà còn là công cụ định hình bộ mặt đô thị, nâng cao chất lượng sống cho người dân. Tại Quận 12, một cửa ngõ phía Tây Bắc của thành phố, nguồn vốn này đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, trường học, bệnh viện và các công trình phúc lợi xã hội. Theo luận văn thạc sĩ của Lê Huy Cường (2020), giai đoạn 2016 - 2020, tổng vốn đầu tư XDCB dự kiến của quận là 28.421 tỷ đồng, cho thấy quy mô và tầm quan trọng của hoạt động này. Hiệu quả của công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Quận 12 ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng, an ninh - quốc phòng và sự phát triển bền vững của địa phương. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, từ việc lập kế hoạch, thẩm định dự án đầu tư xây dựng, phân bổ ngân sách, đến giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bảnquyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành. Việc tuân thủ Luật Đầu tư công và các văn bản pháp lý liên quan là nền tảng để đảm bảo tính minh bạch, chống thất thoát, lãng phí, và tối ưu hóa giá trị của từng đồng vốn ngân sách. Do đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện chính sách quản lý vốn tại địa bàn này mang ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

1.1. Tầm quan trọng của vốn ngân sách nhà nước tại TPHCM

Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước (NSNN) là xương sống cho sự phát triển hạ tầng của TPHCM nói chung và Quận 12 nói riêng. Nguồn vốn này có đặc điểm là không thu hồi trực tiếp, tập trung vào các công trình công cộng mà khu vực tư nhân không có khả năng hoặc không muốn đầu tư. Đây là nguồn vốn “mồi” tạo môi trường thuận lợi, thu hút các nguồn lực xã hội hóa khác. Theo nghiên cứu, vốn NSNN có vai trò chủ yếu trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng, góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hóa và kết nối vùng. Tuy nhiên, đây cũng là nguồn vốn dễ bị thất thoát, lãng phí nhất nếu công tác quản lý yếu kém.

1.2. Vai trò của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Quận 12

Tại Quận 12, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Quận 12 là đơn vị chủ chốt, đóng vai trò chủ đầu tư hoặc đại diện chủ đầu tư trong việc triển khai các dự án sử dụng vốn NSNN. Đơn vị này chịu trách nhiệm từ khâu chuẩn bị dự án, thực hiện, giám sát thi công cho đến nghiệm thu và bàn giao công trình. Năng lực của Ban quản lý dự án ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng và hiệu quả của dự án. Việc nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ tại đây là yếu tố tiên quyết để cải thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên toàn địa bàn.

II. Top 5 thách thức trong quản lý vốn đầu tư XDCB Quận 12

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Quận 12 vẫn đối mặt với không ít thách thức. Luận văn của Lê Huy Cường (2020) đã chỉ ra những tồn tại cố hữu cần được khắc phục. Thách thức lớn nhất là tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu tập trung. Việc xác định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn đôi khi chưa được tính toán kỹ lưỡng, dẫn đến nhiều dự án chậm tiến độ hoặc phải điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần. Cụ thể, giai đoạn 2016-2020, có tới 70 dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, cho thấy công tác lập dự toán và quản lý chi phí quản lý dự án đầu tư xây dựng còn nhiều bất cập. Vấn đề giải phóng mặt bằng cũng là một rào cản lớn, gây chậm trễ trong việc triển khai thi công. Bên cạnh đó, công tác đấu thầu còn hạn chế, hình thức chỉ định thầu vẫn chiếm tỷ lệ cao (81,3% trong giai đoạn nghiên cứu), làm giảm tính cạnh tranh và tiềm ẩn rủi ro về chất lượng cũng như giá thành. Công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành cũng bị kéo dài, với tỷ lệ dự án chưa quyết toán trung bình lên tới 14,9%, gây ứ đọng vốn và khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả sau đầu tư. Cuối cùng, năng lực của một số chủ đầu tư và nhà thầu còn hạn chế, dẫn đến chất lượng công trình chưa đảm bảo, cần đến sự can thiệp của công tác thanh tra vốn đầu tư xây dựng.

2.1. Bất cập trong quy hoạch xây dựng Quận 12 và cân đối vốn

Một trong những nguyên nhân gốc rễ của việc đầu tư dàn trải là sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch xây dựng Quận 12 và kế hoạch phân bổ vốn trung hạn. Nhiều dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng tại Quận 12 nhưng không xác định rõ nguồn vốn hoặc khả năng cân đối vốn, dẫn đến tình trạng "vốn chờ công trình". Thực trạng này không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn mà còn gây lãng phí nguồn lực xã hội khi các công trình bị đình trệ kéo dài.

2.2. Hạn chế trong công tác đấu thầu và lựa chọn nhà thầu

Số liệu cho thấy hình thức chỉ định thầu chiếm đa số tại Quận 12. Mặc dù tuân thủ quy định cho các gói thầu giá trị nhỏ, việc lạm dụng hình thức này làm mất đi tính cạnh tranh, minh bạch. Một số nhà thầu năng lực yếu vẫn trúng thầu, sau đó liên kết với các đơn vị khác để thi công, gây khó khăn cho giám sát tài chính dự án và quản lý chất lượng. Chế tài xử phạt các vi phạm trong đấu thầu hiện nay cũng được cho là còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe.

2.3. Chậm trễ trong giải ngân vốn và quyết toán dự án

Tình hình giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Quận 12 giai đoạn 2016-2020 dù đạt trung bình 91,9% kế hoạch nhưng vẫn còn tình trạng dồn vào cuối năm. Quan trọng hơn, công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành còn rất chậm. Năm 2018, có tới 21 dự án chưa được quyết toán (chiếm 19,4%). Việc chậm quyết toán làm cho tài sản không được ghi tăng đúng hạn, khó đánh giá hiệu quả đầu tư và gây khó khăn cho công tác quản lý tài sản công.

III. Phương pháp tối ưu quy trình quản lý vốn đầu tư xây dựng

Để nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Quận 12, việc hoàn thiện quy trình quản lý là yêu cầu cấp bách. Giải pháp cốt lõi nằm ở việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong tất cả các khâu của chu trình đầu tư, từ lập kế hoạch đến vận hành. Trước hết, công tác lập kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn và hàng năm phải bám sát quy hoạch xây dựng Quận 12 và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Cần chấm dứt tình trạng phê duyệt dự án khi chưa xác định rõ nguồn vốn. Việc thẩm định dự án đầu tư xây dựng phải được thực hiện nghiêm ngặt, không chỉ về mặt kỹ thuật mà còn phải đánh giá kỹ lưỡng hiệu quả kinh tế - xã hội và khả năng cân đối vốn. Tiếp theo, cần tăng cường tính minh bạch và cạnh tranh trong công tác đấu thầu, hạn chế tối đa việc chỉ định thầu không cần thiết, đồng thời nâng cao chất lượng hồ sơ mời thầu và công tác đánh giá hồ sơ dự thầu. Nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng cần được áp dụng triệt để nhằm kiểm soát chặt chẽ tổng mức đầu tư, tránh tình trạng điều chỉnh dự toán nhiều lần. Cuối cùng, quy trình quản lý vốn đầu tư xây dựng phải được số hóa để tăng cường khả năng giám sát, kết nối dữ liệu giữa các cơ quan như Phòng Tài chính - Kế hoạch, Kho bạc Nhà nước và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Quận 12, từ đó đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

3.1. Tuân thủ Nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng

Việc tuân thủ các quy định tại Nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng là nền tảng để kiểm soát thất thoát. Các cơ quan chức năng cần kiểm soát chặt chẽ việc lập, thẩm định và phê duyệt tổng mức đầu tư. Mọi phát sinh trong quá trình thi công phải được lý giải rõ ràng và phê duyệt đúng thẩm quyền. Áp dụng đúng định mức, đơn giá nhà nước ban hành là bắt buộc để ngăn chặn tình trạng nâng khống giá trị dự toán, một trong những nguyên nhân chính gây lãng phí.

3.2. Nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư xây dựng

Chất lượng thẩm định dự án đầu tư xây dựng quyết định tính khả thi và hiệu quả của dự án. Cơ quan thẩm định phải xem xét toàn diện các yếu tố: sự cần thiết đầu tư, quy mô, công nghệ, tiến độ, và đặc biệt là khả năng huy động vốn, giải phóng mặt bằng. Năng lực của đội ngũ cán bộ thẩm định cần được nâng cao thông qua đào tạo chuyên sâu để đảm bảo các dự án được phê duyệt đều có tính khả thi cao, phù hợp với quy hoạch và nguồn lực của địa phương.

3.3. Tăng cường minh bạch trong lựa chọn nhà thầu xây dựng

Để khắc phục hạn chế của việc chỉ định thầu, cần đẩy mạnh áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi qua mạng. Công khai thông tin mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu trên các cổng thông tin điện tử của quốc gia và thành phố. Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực nhà thầu một cách khách quan, khoa học, không chỉ dựa trên giá dự thầu mà còn phải xét đến kinh nghiệm, năng lực tài chính và kỹ thuật, đảm bảo chọn được nhà thầu thực sự có năng lực.

IV. Bí quyết kiểm soát thanh toán và quyết toán vốn đầu tư

Kiểm soát thanh toán và quyết toán là hai khâu cuối cùng nhưng mang tính quyết định trong quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Quận 12. Để kiểm soát chặt chẽ, Kho bạc Nhà nước Quận 12 cần thực hiện nghiêm quy trình kiểm soát thanh toán vốn. Nguyên tắc là chỉ thanh toán cho khối lượng công việc đã hoàn thành, được nghiệm thu đúng quy trình và có đầy đủ hồ sơ hợp lệ. Việc tạm ứng vốn phải đúng quy định và được thu hồi kịp thời. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ đầu tư, đơn vị thi công và Kho bạc để tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhưng không buông lỏng kiểm soát. Đối với công tác quyết toán, cần quy định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành ngay sau khi công trình được bàn giao. Phòng Tài chính - Kế hoạch phải sắp xếp đủ nhân lực và nâng cao năng lực thẩm tra quyết toán để rút ngắn thời gian xử lý. Việc áp dụng các chế tài mạnh đối với các chủ đầu tư, nhà thầu cố tình chậm trễ trong việc lập và nộp hồ sơ quyết toán là cần thiết. Vai trò của kiểm toán dự án đầu tư xây dựng độc lập và thanh tra vốn đầu tư xây dựng cần được phát huy để đảm bảo tính chính xác và trung thực của số liệu quyết toán.

4.1. Tối ưu hóa quy trình kiểm soát thanh toán vốn tại Kho bạc

Kho bạc Nhà nước Quận 12 cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin để rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ thanh toán. Quy trình kiểm soát cần được chuẩn hóa, công khai để các chủ đầu tư và nhà thầu nắm rõ, chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, tránh việc hồ sơ bị trả lại nhiều lần. Đồng thời, cần tăng cường giám sát tài chính dự án thông qua việc đối chiếu, kiểm tra thực tế tại công trường khi cần thiết, đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng.

4.2. Giải pháp đẩy nhanh quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành

Để giải quyết tình trạng tồn đọng, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, nâng cao nhận thức và quy trách nhiệm cụ thể cho người đứng đầu các chủ đầu tư về việc hoàn thành hồ sơ quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành. Thứ hai, tăng cường năng lực cho phòng Tài chính - Kế hoạch, có thể thuê các dịch vụ quản lý dự án xây dựng hoặc đơn vị kiểm toán độc lập để hỗ trợ thẩm tra khi quá tải. Cuối cùng, gắn việc hoàn thành quyết toán với việc giao kế hoạch vốn cho các năm tiếp theo.

4.3. Vai trò của thanh tra và kiểm toán dự án đầu tư xây dựng

Hoạt động thanh tra vốn đầu tư xây dựngkiểm toán dự án đầu tư xây dựng là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa và phát hiện sai phạm. Kết quả thanh tra, kiểm toán phải được công khai và xử lý nghiêm các vi phạm. Như nghiên cứu đã chỉ ra, qua thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm tại Quận 12 và thu hồi hàng trăm triệu đồng cho ngân sách. Việc thực hiện định kỳ và đột xuất các cuộc thanh tra, kiểm toán sẽ góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các bên liên quan.

V. Phân tích thực tiễn quản lý vốn đầu tư Quận 12 2016 2020

Giai đoạn 2016-2020 là một giai đoạn quan trọng, phản ánh rõ nét thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Quận 12. Dữ liệu từ luận văn của Lê Huy Cường cho thấy, nguồn vốn đầu tư XDCB của quận có quy mô ngày càng lớn, chủ yếu đến từ nguồn thu đấu giá quyền sử dụng đất và vốn bổ sung từ ngân sách thành phố. Về phân bổ, vốn được ưu tiên cho các lĩnh vực hạ tầng giao thông, giáo dục - đào tạo và y tế, phù hợp với định hướng phát triển của một quận đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Công tác giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt tỷ lệ khá cao, trung bình 91,9%, cho thấy nỗ lực của các cơ quan trong việc thúc đẩy tiến độ dự án. Tuy nhiên, những con số này cũng bộc lộ nhiều điểm yếu. Tỷ lệ dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư cao cho thấy công tác lập dự toán ban đầu còn yếu kém. Tình trạng chậm quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành vẫn là một vấn đề nhức nhối, với tỷ lệ tồn đọng còn đáng kể. Kết quả thanh tra vốn đầu tư xây dựng đã phát hiện 18 công trình sai phạm, chủ yếu trong lĩnh vực giáo dục và giao thông, với các lỗi như thi công sai thiết kế nhưng vẫn được nghiệm thu. Những bài học thực tiễn này là cơ sở quan trọng để Quận 12 đề ra các giải pháp cải thiện công tác quản lý trong giai đoạn tiếp theo, đảm bảo nguồn vốn ngân sách được sử dụng hiệu quả và minh bạch hơn.

5.1. Kết quả giải ngân và cơ cấu vốn đầu tư thực tế

Trong giai đoạn 2016-2020, KBNN Quận 12 đã kiểm soát thanh toán tổng số vốn lên tới 552.427 triệu đồng. Cơ cấu vốn cho thấy sự ưu tiên rõ rệt cho giao thông (tốc độ tăng bình quân 11,3%/năm) và giáo dục - y tế (tăng bình quân 10,97%/năm). Điều này phản ánh đúng chủ trương đầu tư xây dựng tại Quận 12 nhằm hoàn thiện hạ tầng xã hội. Tuy nhiên, sự phụ thuộc lớn vào nguồn thu từ đất đai tiềm ẩn rủi ro về tính bền vững của nguồn vốn.

5.2. Bài học từ công tác thanh tra và xử lý vi phạm

Công tác thanh tra vốn đầu tư xây dựng đã chỉ ra các sai phạm điển hình: thi công sai, thiếu so với hồ sơ thiết kế; áp dụng định mức vật liệu không đúng; hồ sơ thiết kế sơ sài. Tổng số tiền đề nghị giảm trừ quyết toán và thu hồi nộp NSNN là 793,8 triệu đồng. Bài học rút ra là cần tăng cường giám sát ngay từ khâu thiết kế, thi công chứ không chỉ chờ đến khi thanh tra, kiểm tra. Nâng cao trách nhiệm của đơn vị tư vấn giám sát là yếu tố then chốt.

VI. Giải pháp tương lai cho quản lý vốn XDCB tại Quận 12

Để nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Quận 12 trong giai đoạn tới, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế chính sách, đặc biệt là việc áp dụng triệt để Luật Đầu tư công mới. Cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong toàn bộ chu trình quản lý dự án, từ lập kế hoạch, đấu thầu qua mạng, quản lý tiến độ, đến thanh quyết toán điện tử. Điều này sẽ giúp tăng tính minh bạch, giảm thiểu thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả giám sát. Quận 12 cần xây dựng chiến lược huy động vốn cho dự án xây dựng đa dạng hơn, giảm phụ thuộc vào nguồn thu từ đất, tăng cường thu hút vốn từ khu vực tư nhân theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ là giải pháp mang tính nền tảng. Cần tổ chức các khóa đào tạo thường xuyên về nghiệp vụ quản lý dự án, đấu thầu, quản lý tài chính cho cán bộ tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Quận 12 và các phòng ban liên quan. Cuối cùng, phải đề cao trách nhiệm giải trình của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, chủ đầu tư trong việc đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, coi đây là một tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại cán bộ hàng năm. Với những giải pháp này, công tác quản lý vốn đầu tư tại Quận 12 hứa hẹn sẽ có những chuyển biến tích cực.

6.1. Áp dụng Luật Đầu tư công mới và công nghệ số

Việc áp dụng đầy đủ các quy định của Luật Đầu tư công sửa đổi sẽ siết chặt kỷ luật đầu tư, đặc biệt là các quy định về kế hoạch đầu tư công trung hạn và thẩm định nguồn vốn. Bên cạnh đó, việc xây dựng một hệ thống thông tin quản lý dự án tập trung, ứng dụng công nghệ GIS trong quản lý quy hoạch và giám sát dự án sẽ là một bước đột phá, giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể và đưa ra quyết định chính xác, kịp thời.

6.2. Chiến lược huy động vốn đa dạng cho dự án xây dựng

Để phát triển bền vững, Quận 12 cần có chiến lược huy động vốn cho dự án xây dựng ngoài ngân sách. Cần tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch để kêu gọi các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào các dự án hạ tầng theo hình thức PPP. Việc này không chỉ giúp giảm gánh nặng cho ngân sách mà còn tận dụng được kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến từ khu vực tư nhân, nâng cao chất lượng dịch vụ công.

6.3. Nâng cao năng lực và trách nhiệm của chủ thể quản lý

Con người là yếu tố quyết định. Cần chuẩn hóa các tiêu chuẩn năng lực cho cán bộ làm công tác quản lý dự án. Song song với đào tạo, cần có cơ chế giám sát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, thiếu trách nhiệm. Gắn trách nhiệm của cá nhân, đặc biệt là người đứng đầu, với hiệu quả của từng dự án sẽ tạo ra động lực và áp lực cần thiết để cải thiện chất lượng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

04/10/2025
Thực hiện chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn quận 12 thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chính sách công và thực hiện chính sách công 1. Chính sách công Cho đến hiện tại, nghiên cứu từ các tài liệu có không ít định nghĩa, quan niệm khác nhau về chính sách công, trong đó có một số khái niệm khá phức tạp và bao hàm tương đối rộng các chức năng và hoạt động của chính sách.

Thomas Dye (năm 1972) đưa ra một định nghĩa khá súc tích về chính sách công như sau: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” [36] Định nghĩa này khá cô đọng, nhưng không cung cấp những hiểu biết sâu sắc về chính sách công, bởi nó không đưa ra một sự phân định những hoạt động nào được gọi là chính sách trong vô số các hoạt động của Nhà nước. Một quan điểm khác về chính sách công từ các nhà khoa học của Viện Chính trị học: “…chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” [20]. Như vậy, tổng hợp từ các quan điểm trên thì chính sách công do cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước ban hành và là chính sách của Nhà nước. Chính sách công có thể bao gồm hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước như Hệ thống Luật, Nghị định, các thông tư, chỉ thị… của các cơ quan quản lý có thẩm quyền.

Dưới chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị, kinh tế, xã hội có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề 9 của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền tại quốc gia đó. Quy trình thực hiện chính sách công Tổ chức thực thi chính sách (Organization of policy implementation) là việc tổ chức thực thi chính sách của toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chỉ của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước. Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) trong thực thi chính sách [20]. Quy trình thực hiện chính sách công thông qua các bước sau: - Lập kế hoạch thực hiện chính sách: Là quá trình các chủ thể quản lý xây dựng kế hoạch triển khai chính sách trong đó bảo đảm được toàn bộ các nội dung của quá trình triển khai chính sách.

Đây là căn cứ để đánh giá hiệu quả triển khai chính sách trong thực tiễn. - Phổ biến tuyên truyền chính sách: Là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tuyên truyền các nội dung của chính sách để các đối tượng chính sách và các chủ thể khác liên quan hiểu rõ chủ trương và quá trình triển khai chính sách vào thực tiễn. - Phối hợp các cơ quan để thực hiện chính sách: Để quá trình triển khai chính sách có hiệu quả và tiết kiệm được nguồn lực của Nhà nước thì các đơn vị liên quan phải phối hợp với nhau theo đúng chức năng nhiệm vụ được giao, qua đó triển khai đúng, linh hoạt hiệu quả kế hoạch chính sách. - Duy trì và điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tế: Đây là khâu quan trọng nhằm đánh giá được mức độ triển khai chính sách vào thực tiễn, sự phù hợp của chính sách qua đó được đánh giá nhằm duy trì hiệu quả chính sách cũng như có những điều chỉnh kịp thời.

10 - Theo dõi, đôn đốc kiểm tra chính sách: Bên cạnh việc lập kế hoạch triển khai, bố trí nguồn lực triển khai chính sách thì công tác kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách sẽ giúp chủ thể, đối tượng chính sách nắm bắt được thông tin thực tiễn của chính sách qua đó có thể nhìn nhận tổng quát về chính sách trong thực tiễn. - Tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách giúp các nhà chính sách, chủ thể và các đối tượng liên quan có đánh giá được hiệu quả chính sách, rút ra được các kết quả, thành công và đánh giá được các hạn chế, vướng mắc làm cơ sở để đề xuất điều chỉnh chính sách và bổ sung kế hoạch thực hiện cho chu trình chính sách tiếp theo. Chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản và thực hiện chính sách quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản Trên lĩnh vực kinh tế, đầu tư là hoạt động mang mục đích kiếm lời. Tính sinh lời là bản chất đặc trưng cơ bản chủ yếu của hoạt động đầu tư.

Như vậy, bất kỳ hoạt động bỏ vốn nào ở hiện tại nhằm mục đích thu lợi nhuận trong tương lai như: mua công trái, trái phiếu, cổ phiếu hay gửi tiết kiệm hoặc xây dựng hạ tầng KT-XH, kinh doanh thương mại, dịch vụ. đều được gọi là hoạt động đầu tư. Theo Luật Đầu tư 2020 thì “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. [29] Từ khái niệm đầu tư XDCB và sự phân tích về vốn đầu tư XDCB từ NSNN, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn có thể hiểu khái niệm vốn đầu tư XDCB từ NSNN là: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước là một phần của vốn đầu tư phát triển của ngân sách Nhà nước được hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chi cho hoạt động đầu tư xây dựng cơ 11 bản nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân.

* Đặc điểm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước Đặc điểm của hoạt động đầu tư XDCB từ nguốn vốn NSNN nói chung đó là: Sản phẩm của hoạt động đầu tư XDCB có tính cố định; chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu, thời tiết của từng vùng; thời gian XDCB và thời gian tồn tại của sản phẩm XDCB lâu dài; vốn cho hoạt động đầu tư XDCB lớn, do sản phẩm có khối lượng lớn, thời gian xây dựng và tồn tại của sản phẩm XDCB dài khó thu hồi; tính đơn chiếc và chu kỳ sản xuất không lặp lại là đặc điểm rõ của đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN. Ngoài những đặc điểm chung về vốn đầu tư XDCB nói chung thì vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn có hai đặc điểm mang tính đặc thù cần được quan tâm [8], đó là: - Nguồn vốn NSNN để thực hiện đầu tư cho XDCB tại các cấp ngân sách thường được đánh giá là không có khả năng thu hồi trực tiếp, với số lượng lớn, có tác dụng chung cho sự phát triển KT-XH của các địa phương, các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư trong lĩnh vực này vì những đặc điểm cụ thể của hoạt động đầu tư XDCB nêu trên. - Nguồn vốn NSNN thực hiện đầu tư cho XDCB là nguồn vốn cấp phát trực tiếp từ NSNN các cấp không hoàn lại nên đây là nguồn vốn dễ bị thất thoát, lãng phí nhất cần có những chế tài nghiêm để quản lý chặt chẽ. Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN là quá trình tác động, điều chỉnh đến hoạt động đầu tư XDCB để xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng KT-XH, nhằm cho vốn đầu tư đó được sử dụng hiệu quả, chống thất thoát lãng phí.

Đặc điểm của quản lý vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước 12 Một là, quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN là quản lý khoản chi lớn của NSNN nhưng không có tính ổn định. Chi đầu tư XDCB là khoản chi tất yếu nhằm đảm bảo sự phát triển KT-XH cho mỗi quốc gia nói chung và cho từng địa phương nói riêng. Trước hết, chi NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất dịch vụ cho sự phát triển KT-XH của mỗi địa phương. Đồng thời, chi đầu tư NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản còn ý nghĩa là vốn tạo mồi để tạo môi trường đầu tư thuận lợi, định hướng đầu tư phát triển cho nền KT-XH của địa phương, của quốc gia theo từng thời kỳ.

Hai là, quản lý vốn đầu tư XDCB gắn liền với đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản. Đầu tư XDCB bằng vốn ngân sách Nhà nước là một khoản chi lớn và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng vốn chi đầu tư phát triển của NSNN. Do đó, trong hoạt động này, sự vận động, thay đổi của tiền vốn dùng để trang trải chi phí đầu tư XDCB chịu sự chi phối trực tiếp bởi đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản đã nêu ở trên. Ba là, quản lý vốn đầu tư XDCB gắn với đặc điểm của NSNN và đặc điểm của chi NSNN.

Bên cạnh đặc điểm chung của quản lý chi NSNN, quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN có đặc điểm riêng đó là: Người quản lý vốn XDCB và người sử dụng kết quả đầu tư XDCB có thể tách rời nhau, điều này có thể làm giảm chất lượng công trình đầu tư XDCB làm khó khăn cho công tác quản lý chi NSNN. Bốn là, việc quản lý vốn đầu tư XDCB phải thực hiện trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh trình tự dự án đầu tư và xây dựng. Phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch. Chính sách quản lý vốn ĐTXDCB từ NSNN được hiểu là chức năng và hoạt động của hệ thống tổ chức nhằm đề ra các chính sách để quản lý vốn ĐTXDCB từ NSNN một cách có hiệu quả đảm bảo việc xây dựng và phát triển 13 cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng KT-XH cho nền kinh tế phát triển.

Thực tế quản lý vốn đầu tư từ NSNN hiện quá phức tạp, thủ tục rườm rà, do có quá nhiều cấp, ngành tham gia quản lý, sự chồng chéo đó lại không đảm bảo có hiệu quả và chặt chẽ trong quản lý. Vì vậy chủ thể quản lý chính sách vốn ĐTXDCB từ NSNN là tổng thể các cơ quan quản lý vốn ĐTXDCB từ NSNN với cơ cấu tổ chức nhất định gồm các cơ quan chức năng của Nhà nước thực hiện ban hành các cơ chế, chính sách, quản lý vĩ mô đối với vốn ĐTXDCB từ NSNN và cơ quan Chủ đầu tư thực hiện chính sách quản lý vĩ mô đối với vốn ĐTXDCB từ NSNN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ