Chương I: Cơ sở lý luận chung về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Chương II: Phân tích thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE QUAN LY VON DAU TƯ XAY DUNG CO BAN TU NGAN SACH NHA NUOC 1.1, Khái quát chung về von dau tư xây dựng cơ ban từ ngân sách nhà nước 1.1, Khái niệm về von dau tu xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Vôn đâu tư xây dựng cơ bản: “Vốn đầu tư: Là biéu hiện bằng tiền của giá trị đầu tư, bao gồm các chi phí tiêu hao nguồn lực phục vụ cho hoạt động đầu tư, nghĩa là bao gồm toàn bộ chi phí đầu tư” (Nguyễn Thị Thoa, 2015). Theo Khoản 18, điều 3, Luật đầu tư năm 2014: “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. Vốn DTXDCB: Là tiền va các tài sản khác dé thực hiện hoạt động đầu tư vào các công trình, dự án XDCB -Ngân sách nhà nước: Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 đã nêu rõ các quy định về quản lý và điều hành NSNN của Việt Nam, tại Điều 1 ghi rõ: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thâm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm dé bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”.
Trong đó: Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tô chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của Pháp luật. “Chi ngân sách Nhà nước bao gồm: a) chi đầu tư phát triển; b) chi dự trữ quốc gia; c) chi thường xuyên; d) chi trả nợ lãi; đ) chi viện trợ; e) các khoản chi khác theo quy định của pháp luật (Lê Văn Hưng, 2013).” “Chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của ngân sách Nhà nước, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật” “Chi đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của ngân sách Nhà nước. dé thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cầu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.” “Ngân sách Nhà nước gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm các cấp ngân sách tỉnh, huyện, xã.” + “Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc TW;” + “Ngân sách huyện, quận, thi xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của các xã, phường, thị tran;” + “Ngân sách các xã, phường, thị tran (gọi chung là ngân sách cấp xã);” - Vốn DTXDCB từ NSNN: Có thé hiểu VDT XDCB từ NSNN như sau: Thuộc một phan của nguồn VDT do NSNN huy động cho phát triển, nguồn vốn này phục vụ cho mục dich phát triển cơ sở vật chất, kết cau hạ tầng cho nền kinh tế quốc dân.2, Phân loại vốn dau tư xây dựng cơ bản Xét trên tổng thé nền kinh tế, VDT hình thành từ hai nguồn: vốn đầu tư quôc gia va von dau tư nước ngoài.
+ Vốn đầu tư quốc gia: là phần tích lũy của nền kinh tế được tạo thành từ tiền tiết kiệm của khu vực tư nhân, các tổ chức kinh doanh, tổng công ty và tiết kiệm của nhà nước được huy động trong quá trình tái sản xuất xã hội bao gôm: nguồn von nha nước và nguôn von tư nhân và dân cư. + Vôn Đâu tư Nước ngoài bao gôm tât cả các nguôn từ các cá nhân, công ty, tô chức kinh doanh và chính phủ nước ngoài có thê được huy động cho sự phát triên của nước sở tại trong quá trình đâu tư.3, Đặc điển của vốn dau tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Từ các phân tích về VDTXDCB từ NSNN cấp huyện, chúng ta có thé 5 thay loại von này có một sô đặc diém như sau: Đầu tiên, các dự án ĐTXDCB thường không lặp lại do các công trình nay thường có quy mô lớn, không dé thay đổi, và có số vốn đầu tư lớn. Có nhiều bước liên quan đến việc ĐT vốn vào XDCB, trong đó có sự tham gia của nhiều người thuộc các ngành nghề khác nhau; Sự lãng phí tài nguyên là rất lớn. Dé bảo đảm DTXDCB dat hiệu quả cao, cần tiến hành bài bản các công tác chuẩn bi , lên kế hoạch dự án dau tư thật vững chắc, là cơ sở đê việc triên khai đạt được hiệu quả như mong đợi.
Thứ hai, các khoản ĐTXDCB sử dụng vốn NSNN thường dài hạn và sản phẩm đầu tư xây dựng có giá trị lâu dài. Với tính chất cố định muốn tạo ra một sản phâm hoàn chỉnh cần rất nhiều thời gian và thường sau khi hoàn thành có thé sử dụng rat lâu. Thứ ba, VDTXDCB từ nguồn NSNN chủ yếu dùng dé xây dựng kết cau ht-kt, ht-xh và TSCĐ của nền kinh tế. Các công trình HT-KT: cầu đường, bến bãi,.
và các công trình HT- XH: sân vận động, bệnh viện, trường học, trung tâm văn hoá. có tầm quan trọng kỹ thuật lớn. Nó góp phần vào việc tăng cường CSVCHT-KT của quốc gia và chuyển đổi nền kinh tế, đây nhanh sự phát triển và tăng nhịp độ tăng trưởng năng lượng, phát triển năng suất lao động xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng. Thứ tư, các khoản đầu tư có thé dé dàng bị lãng phí và thâm hụt vào các khoản DTXDCB.
VDTXDCB không chỉ thực hiện ở một nơi mà nhiều nơi thường có quy mô lớn, thời gian đầu tư lâu, ảnh hưởng đến nhiều ngành, lĩnh vực. chủ đầu tư thường không phải là người trực tiếp sử dụng nên dễ lãng phí, thâm hụt. Điều này không chỉ gây ảnh hưởng về kinh tế mà còn tác động xấu đến các mặt chính trị. Tham nhũng làm giảm chi tiêu công cho DTXD, gây hoang mang cho xã hội, thay đổi chính sách đầu tư, giảm uy tín và vai trò của các công ty trong nha nước.4, Nguyên tắc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản Một là, nguyên tắc tuân thủ pháp luật.
Một khi dự án đầu tư đã được phê duyệt thì chủ đầu tư có toàn quyền quyết định và ra lệnh trả tiền, những quyền đó phải đặt trong khuôn khô pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi việc quản lý chỉ phí đầu tư trong tất cả các giai đoạn. tất cả các giai đoạn đều phải tuân theo thể lệ tài chính, định mức, tiêu chuẩn. Và giá hợp đồng thi công phải phù hợp với nội dung hợp đồng và thực tế về những khối lượng công việc thực sự hoàn thành được chấp thuận theo các văn bản luật pháp hiện hành.
Hai là, nguyên tắc thông nhất trọn vẹn Nguyên tắc này đòi hỏi toàn bộ nội dung của chi phí đầu tư, không phân biệt nhóm, công việc, giai đoạn của dự án và được mô tả hoàn toàn bằng ngôn ngữ tài chính và tuân theo các nguyên tắc và quy định thống nhất được quy định và quản lý theo pháp luật. Các tô chức chịu trách nhiệm kiểm tra, kiêm toán và kiểm toán chi phi vốn phải tuân thủ nhất quán các quy định về quản lý chi phí đầu tư của chính phủ đã được chủ sở hữu hoặc người ra quyết định đầu tư phê duyệt. Ba là, Nguyên tắc chi phí dự án đầu tư phải được quyết định trước Nguyên tắc này bắt đầu từ bản chất của KH ngân sách và KH ngân sách phải được quyết định trước khi bắt đầu chu trình ngân sách. Theo nguyên tắc này, bất kỳ một dự án đầu tư nào, thuộc bất cứ cơ quan công quyền hoặc cơ quan nào được phép sử dụng ngân sách theo luật NSNN, đều phải có tổng mức đầu tư được duyệt và được ghi vào kế hoạch ngân sách trước khi bắt đầu thực hiện dự án.
Phải lập dự toán bổ sung trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi thi công nhưng không làm vượt tổng mức đầu tư được duyệt đối với những khối lượng công việc phát sinh ngoài thiết kế dự toán được duyệt. Bon là, “ Rõ ràng, trung thực và chính xác” Theo nguyên tắc, việc lập, phê duyệt dự án đầu tư cũng như dự toán và việc thanh toán, quyết toán VDT phải phản ánh trung thực và chính xác những tình trạng và sự kiện thực tế về hoạt động xây dựng, những đề nghị phê duyệt (tổng mức đầu tư, dự toán, quyết toán) phải được căn cứ trên một đánh giá thiết thực và thích đáng với những việc đã xác định mẫu. Những tài liệu cần thiết dé trình bày và biện minh cho những dé nghị ngân sách phải là những tài liệu chính xác và phải mô tả rỏ ràng, có hệ thống và đúng sự thật. Hơn nữa những tài liệu và những sự kiện phải đủ chi tiết và đúng hình thức mẫu biểu dé giúp cho việc đánh giá, phê chuẩn được chính xác và hợp lý.
Nam là, nguyên tắc : “Uyên chuyên-Xác đáng-Thích hợp” Những nguyên tắc quản lý tài chính không phải là các nguyên lý cơ bản của chung như là trong khoa học vật lý hay hóa học. Trái lại, tất cả các nguyên tắc quản lý đều dựa vào những sự kiện thực tế và dự đoán tương lai dé đặt ra. Vì vậy, nó cần phải được biến đổi cho hợp với những diễn biến thực tÊ xảy ra. Theo nguyên tắc này, chủ đầu tư có đủ thẩm quyền sử dụng kinh phí dự phòng dé có thé thực hiện những khối lượng công việc mà khi lập và trình phê duyệt dự toán không đủ điều kiện để xác định hoặc trường hợp bất khả kháng do thiên tai như bảo, lũ lụt, hỏa hoạn.
và các thảm họa chưa lường hết được kinh phí dự phòng được xác định với một tỷ lệ % tính trên tổng chi phí đầu tư biết trước.2, Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước 1.1, Khái niệm về quản lý vốn dau tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nha Hước Quản lý VĐTXDCB từ NSNN: là quá trình quản lý vốn giữa các nhà nước.