phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường Trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường trường THPT huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nước ngoài Sự phát triển CNTT như vũ bão đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp giáo dục của các quốc gia trên thế giới đặc biệt các nước có nền giáo dục phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật bản. Để có được sự ứng dụng CNTT vào trong giáo dục như ngày nay, các nước đã trải qua nhiều chương trình quốc gia về tin học hóa cũng như ứng dụng CNTT vào khoa học công nghệ và giáo dục, coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Chính vì vậy họ đã rất quan tâm đầu tư về CNTT, ứng dụng CNTT và quản lý việc ứng dụng CNTT.
Ở Mỹ những nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục được thực hiện từ sớm nên dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối thập niên 90. Tại Nhật Bản đã xây dựng chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia đến năm 2000” về việc ứng dụng CNTT để xây dựng một xã hội thông tin đã được công bố từ những năm 1972. Từ năm 1997 Bộ Giáo dục Singapore đã khởi động kế hoạch tổng thể về CNTT trong giáo dục. Với chương trình này, mọi trẻ em của Singapore được đảm bảo cơ hội tiếp cận với môi trường học đường mang đậm màu sắc CNTT.
Đến tháng 7 năm 2002, Bộ Giáo dục Singapore đã công bố Kế hoạch tổng thể CNTT 2 nhằm kế thừa và phát huy những thành công của Kế hoạch CNTT 1, tiếp tục đưa ra những định hướng chung cho các nhà trường trong việc tận dụng những cơ hội CNTT đem lại để phục vụ giảng dạy và học tập. Do đầu tư phát triển CNTT có kế hoạch nên những quốc gia kể trên đã đạt được thành tựu phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục như ngày nay. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Việt Nam Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ những năm 1970.
Tuy nhiên, ngành CNTT ở Việt Nam trong thời kỳ đó chưa được quan tâm đúng mức. Bước sang thời kỳ đổi mới, nhận thức được tầm quan trọng của CNTT mang lại, đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng nhấn mạnh tới việc đẩy mạnh CNTT như: Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Mục tiêu đến năm 2010, CNTT Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng. CNTT trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển hàng năm cao nhất so với các khu vực khác, có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng” [3]. Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, ngày 30/7/2001 nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GD&ĐT ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học.Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối Internet đến tất cả các cấp quản lý và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục” [4].
Trong những năm qua, việc nghiên cứu ứng dụng CNTT trong giáo dục đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nhưng việc nghiên cứu quản lý ứng dụng CNTT trong đổi mới giáo dục chưa được đề cập cụ thể. Một số hội nghị, hội thảo hay trong một số luận văn thạc sỹ QLGD nghiên cứu về CNTT đã đề cập đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong quá trình DH như: * Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện CNTT (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Khoa CNTT (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3 năm 2005, đã đề ra hướng phát triển môi trường học tập của người học trong giai đoạn mới, phù hợp với xu thế phát triển của CNTT dựa vào ứng dụng CNTT. * Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT&TT “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới PPDH”, Trường Đại học Sư phạm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hà Nội phối hợp với Dự án Giáo dục đại học tổ chức từ 9-10 tháng 12 năm 2006 tại Hà Nội, đã đề cập đến các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bằng việc ứng dụng các thành tựu của CNTT&TT vào trong quá trình dạy học. * Luận văn Thạc sĩ QLGD của tác giả Đào Thị Ninh nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở các trường THPT quận Cầu Giấy - Hà Nội”, đã đưa ra một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT nhằm nâng cao chất lượng giáo dục THPT trong phạm vi nghiên cứu.
* Luận văn Thạc sĩ QLGD của tác giả Phạm Trường Lưu nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp quản lý hoạt động DH có sử dụng đa phương tiện ở trường THCS”, đã đưa ra một số biện pháp quản lý hoạt động DH có sử dụng đa phương tiện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. * Luận văn Thạc sĩ QLGD của tác giả Trần Thị Đản nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp tổ chức triển khai việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy của hiệu trưởng trường THCS Văn Lang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”, đã đề xuất một số biện pháp tổ chức triển khai việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy của CBQL nhằm giúp giáo viên trong nhà trường có kiến thức, kỹ năng khi ứng dụng CNTT vào giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Trong các cuộc hội thảo hay các luận văn, các nhà khoa học và các tác giả đã chỉ rõ vị trí, tầm quan trọng của ứng dụng CNTT, đặc biệt là các giải pháp quản lý ứng dụng CNTT trong DH. Đề xuất, kiến nghị với các cấp lãnh đạo trong việc triển khai một số biện pháp quản lý việc ứng dụng CNTT trong DH tại các nhà trường thuộc phạm vi quản lý.
Thực tế hiện nay, việc đưa CNTT trong DH còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết như: Trình độ tin học cơ bản của nhiều CBQL, GV còn yếu. GV chưa hiểu rõ về khái niệm GADHTC có ứng dụng CNTT, GADHTC điện tử cũng như chưa nêu được quy trình thiết kế và sử dụng các loại giáo án này. Hơn nữa, ở các trường THPT của huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong DH. Việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong DH ở các 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường THPT của huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay đang là vấn đề cần tập trung giải quyết.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Trong quá trình hình thành lý luận về quản lý, các nhà nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau đã đưa ra những định nghĩa khác nhau.Taylor (1856 - 1915) “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [ 6, tr.Fayol (1841 - 1925), xuất phát từ các loại hình “Hoạt động quản lý”, Ông đã nhấn mạnh quản lý gồm 5 chức năng cơ bản: “Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [7, tr. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Quản lý”: Theo tác giả Vũ Ngọc Hải: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [11, tr. Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm lực, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến đổi của môi trường [16, tr.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Bản chất của hoạt động quản lý là nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới. Quản lý = Quản + Lý Trong đó: - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định. - Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới và phát triển. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên hệ thống ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái, còn hệ phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến sự không bền vững thậm chí là sự rối ren.
Vì vậy, quản lý là làm cho tổ chức luôn giữ được sự ổn định và ngày càng phát triển [2, tr. Từ những định nghĩa trên ta có thể khẳng định: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, các nguyên tắc và các kỹ năng quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình. Các chức năng quản lý Khi phân loại về chức năng quản lý, các nhà nghiên cứu lý luận về quản lý cũng có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều đề cập tới 4 chức năng chủ yếu đó là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.