Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TINVÀ TRUYỀN THÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠOỞ TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quanvấn đề nghiên cứu 1. Ở các nước trên thế giới Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến ứng dụng công nghệ thông tin như: Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Mỹ. Để có được ứng dụng CNTT&TT như ngàynay họ đã có một quá trình nghiên cứu và phát triển lâu dài cũng như đã trải qua rất nhiều các dự án, các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT&TT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là sự ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục.
Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Vì vậy họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trong các lĩnh vực như: Điện tử, sinh học, y tế, giáo dục,.cụ thể: Ở Australia vào tháng 3/2000, Hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ hướng đi được trình bày trong tài liệu “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin”, tài liệu này bao gồm hai mục tiêu giáo dục trường học bao quát cho nền kinh tế thông tin, đó là: Một là: Tất cả mọi học sinh sẽ rời trường học như những người sử dụng tin cậy, sáng tạo và hiệu quả những công nghệ mới, bao gồm CNTT và viễn thông, và những học sinh này cũng ý thức được tác động của ngành công nghệ này đối với xã hội. Hai là: Tất cả các trường đều hướng tới việc kết hợp CNTT và viễn thông vào trong hệ thống của họ, để cải thiện khả năng học tập của học sinh để đem lại 6 nhiều cơ hội học tập hơn cho người học và làm tăng hiệu quả của việc thực tập kinh doanh của họ”. Tại Canada, gần đây việc giới thiệu phần mềm dạy toán học trên cơ sở máy tính (The learning Equation Mathematic) đã đem lại thành tích nổi bật cho những em học sinh lớp 9 trong kiến thức về toán học và những kỹ năng liên quan đến số học, mô hình và hình dạng so với những em học sinh sử dụng sách giáo khoa truyền thống.
Một nghiên cứu gần đây của Canada cũng chỉ ra rằng những học sinh lớp 8 mà giáo viên có sử dụng máy vi tính để mô phỏng và ứng dụng đạt được những suy nghĩ có tổ chức hơn và biểu hiện tốthơn so với những học sinh không được học trên máy tính. Bên cạnh việc triển khai ứng dụng CNTT&TT vào dạy học, vấn đề quản lý việc ứng dụng CNTT&TT cũng được các quốc gia thực hiện một cách rất khoa học và bài bản. Có thể đề cập tới những biện pháp quản lý ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục của một số quốc gia như sau: Ở Hàn Quốc, các hoạt động về chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT&TT được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều Bộ, Ngành, địa phương được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung. Các dự án ứng dụng CNTT&TT được tiến hành bởi từng Bộ, Ngành, địa phương sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc “Quỹ thúc đẩy” CNTT&TT do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý.
Tương ứng là hai cơ quan chỉ đạo và điều phối: Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử thuộc Ban đổi mới chính phủ của Tổng thống. Ở Singapore năm 1981 thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ. Hai là, phối hợp GD&ĐT tin học. Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore.
Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó. Tại Nhật Bản, chương trình quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia đến năm 2000” đã được công bố từ những năm 1972. 7 Ở Mỹ và các nước châu Âu, những nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những thập niên 90. Chính nhờ những bước đầu tư và quản lý đúng đắn về phát triển ứng dụng CNTT&TT mà những quốc gia nói trên đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục trong những thập kỷ qua.Ở Việt Nam Ứng dụng CNTT&TT trong quản lý hoạt động dạy học đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu.
Các hội thảo, hội nghị, đề tài khoa học nghiên cứu về ứng dụng CNTT&TT đã đề cập nhiều đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục và nâng cao chất lượng dạy học: - Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học” Trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với Dự án giáo dục đại học tổ chức từ ngày 09-10/12/2006 tại trường ĐHSP Hà Nội. Những cuộc hội thảo này đều tập trung về vai trò của CNTT đối với giáo dục và các giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh việc ứng dụng CNTT vào dạy học. - Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện Công nghệ thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (ĐH Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức vào đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. - Công trình nghiên cứu: “Công nghệ thông tin với việc dạy và học trong nhà trường Việt Nam” [10] đã phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của việc sử dụng CNTT&TT trong dạy và học, đồng thời nêu lên được ứng dụng CNTT&TT trong dạy và học hiện tại, tương lai.
- Công trình nghiên cứu: “ Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng CNTT - xu thế của thời đại” [19] được báo cáo tại Hội thảo “Tin học trong quản lý ứng dụng trong nhà trường” đã nêu quan điểm dạy và học theo nghĩa CNTT và trình 8 bày một số thử nghiệm bước đầu công nghệ dạy và học thực hiện tại trung tâm CNTT của Bộ GD - ĐT. - Tác giả Đào Thái Lai cùng nhóm tác giả [6] đã tiến hành đánh giá “Mức độ ứng dụng CNTT vào dạy học của giảng viên các trường ĐH” theo mức độ thường xuyên sử dụng thông qua các tiêu chí như: trình chiếu Power Point, khai thác thông tin trên mạng Internet vào dạy học, thiết kế bài giảng điện tử, quản lý hồ sơ giảng dạy bằng máy tính, sử dụng phần mềm dạy học, thi trực tuyến, dạy học qua mạng, làm phim video, sử dụng máy tính hỗ trợ thí nghiệm. - Hội thảo “Chính phủ điện tử ngành giáo dục và đào tạo” do Cục Công nghệ thông tin, Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 9/11/2017, tập trung thảo luận về dự thảo Kiến trúc Chính phủ điện tử và mô hình ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) các cấp: Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT và các cơ sở GD&ĐT; giới thiệu một số giải pháp về ứng dụng CNTT trong giáo dục nhằm tăng cường công tác quản lý và khả năng kết nối thông tin giữa nhà trường và phụ huynh học sinh… Qua việc tổng hợp nghiên cứu vấn đề, tác giả nhận thấy rằng các hội thảo, các công trình về ứng dụng CNTT&TT từ trước đến nay đều khẳng định vai trò ứng dụng CNTT&TT trong dạy học và vai trò của các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT&TT trong đào tạo là vô cùng quan trọng. Thực tế việc đưa CNTT&TT vào hoạt động dạy học và quản lý đào tạo còn tồn tại nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết.
Trình độ tin học của đội ngũ giảng viên còn chưa đồng đều và gặp nhiều lúng túng khi thiết kế giáo án dạy học có ứng dụng CNTT&TT. Tác giả Nguyễn Thị Hằng với đề tài: Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường THCS huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội[11]. Theo tác giả để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo thì việc nghiên cứu tìm biện pháp quản lý ứng dụng CNTT ở các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Oai là vấn đề bức thiết. Tác giả Nguyễn Thị Tuyết với bài:Bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ 9 thông tin và truyền thông trong dạy học cho giáo viên trung học cơ sởđăng trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục số đặc biệt năm 2016 [17].
Theo tác giả hiện nay năng lực ứng dụng CNTT và truyền thông của nhiều GV còn yếu kém. Để ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học có hiệu quả các cơ quan quản lý giáo dục, các trường THCS cần tổ chức bồi dưỡng theo định kỳ cho GV đề nâng cao năng lực ứng dụng CNTT và TT trong dạy học ở các trường THCS. Hiện nay, tại Trường Đại học Hùng Vương đã nghiên cứu và áp dụng nhiều các biện pháp quản lý trong dạy học và quản lý hoạt động đào tạo nhưng vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT&TT trong quản lý hoạt độngđào tạo. Chính vì lí do đó, việc đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT và TT trong quản lý hoạt động đào tạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học cũng như công tác quản lý đào tạo, quản lý kết quả học tập của sinh viênTrường Đại học Hùng Vương là rất cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm Theo tác giả Nguyễn Văn Hộ: “Dạy học là một hiện tượng xã hội, được diễn ra trong một quá trình và được thực hiện chủ yếu trong các trường hợp, và cả trong những tổ chức và thể chế xã hội, được tồn tại bên cạnh các quá trình xã hội khác như chính trị - xã hội, hành chính, pháp chế, kế hoạch, tài chính, tư tưởng văn hóa giáo dục, đạo đức vv… và cũng được coi như đối tượng của công tác quản lí nhà trường”[26,tr10].
Song, trong thực tiễn của công tác giáo dục, dạy học cùng với giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức là những quá trình cốt lõi thu hút sự quan tâm, nỗ lực của mọi lực lượng tham gia vào công tác giáo dục.